chương I1 và chương 12. Tham gia biên soạn có ThS. Lê Minh Cần biên soạn các chương §Š và chương 10. Các tác giả chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng nghiệp và các tác giả của tài liệu tham khảo.
Trong tài liệu này chắc không khỏi sự khiếm khuyết, mong độc giả thông cảm. Mọi sự góp ý xm gửi về: Bộ môn KTXD Trường ĐHƠỚTVT- Hà Nội. Xin cam on. TC&DHSX @ 3 CHUONG | NHUNG VAN DE CHUNG VE TO CHUC SAN XUAT TRONG XAY DUNG GIAO THONG 1.
NHUNG KHAI NIEM VE SAN XUAT VA TO CHUC SAN XUẤT 1. KHÁI NIỆM VỀ SẢN XUẤT Trước kia thuật ngữ sản xuất chỉ bao hàm việc tạo ra sản phẩm hữu hình. Sau này nó được mở rộng và bao hàm cả việc tạo ra các dịch vụ. nói đến sản xuất có nghĩa là không kể việc nó tạo ra sản phẩm hữu hình hay dịch vụ.
sản xuất dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn ở các nước phát triển. các hệ thống sản xuất được chia làm hai dang chủ yếu: dạng sản xuất chế tạo và sản xuất không chế tạo hay là sản xuất dịch vụ. Dạng sản xuất chế tạo là dạng sản xuất thực hiện các quá trình vật lý. hoá học để biến đổi nguyên vật liệu thành sản phẩm hữu hình.
Nói cách khác: sản xuất chế tạo là loại hình sản xuất mà sản phẩm của nó có hình đáng, kích thước cụ thể. có thể sờ thấy được, đo đếm được và có giá trị. Dạng sản xuất địch vụ là dạng sản xuất không tạo ra sản phẩm hữu hình tức là đạng sản xuất không chế tạo. Nói cách khác: Sản xuất dịch vụ là loại hình sản xuất mà sản phẩm của nó không có hình dáng, kích thước cụ thể, không sờ thấy được mà chỉ có giá trị.
Các đặc tính chung của hệ thống sản xuất Hệ thống sản xuất chế tạo cung cấp sản phẩm cho xã hội hay sản xuất dịch vụ đều có đặc tính chung: — Hệ thống sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho nhu cầu xã hội. — Các hình thúc sản xuất khác nhau có thể có đầu vào khác nhau, đầu ra khác nhau, các dạng chuyên hoá khác nhau. song đặc tính chung của nó là chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành các kết quả đầu ra có tính hữu dụng cho đời sống của con người. Như vậy dạng sản xuất chế tạo và dạng sản xuất dịch vụ có đặc điểm chung là đều sử dụng các yếu tố đầu vào và thông qua hoạt động sản xuất mà có sự chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành các đầu ra phục vụ đời sống của con người.
Các đầu vào của hệ thống sản xuất là nguyên vật liệu, lao động, các phương tiện sản xuất, kĩ năng quản trị. Các đầu ra là sản phẩm hay dịch vụ và các ảnh hưởng khác đến đời sống xã hội. CAC HINH THUC SAN XUAT Các hình thức sản xuất chế tạo Các hình thức sản xuất chế tạo được chia theo nhiều cách khác nhau, tuỳ vào mục đích nghiên cứu. Căn cứ theo phương pháp tô chức quản lý hoạt động sản xuất Khi nghiên cứu các hình thức sản xuất, người ta lấy các đặc trưng của điều kiện sản xuất và phương pháp sản xuất làm đối tượng chính.
Các đặc trưng này liên quan rất chặt chẽ đến phương pháp tổ chức quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hình thức sản xuất chế tạo làm ra các sản phẩm hữu hình có thể lưu trữ tồn kho trong khoảng thời gian cần thiết nên sự khác nhau của các hình thức sản xuất chế tạo. trước hết có thể xét trone phạm vi thời gian mà doanh nghiệp lập kế hoạch lưu trữ trong kho. kế hoạch mưa sắm nguyên vật liệu.
kế hoạch chế biến thành sản phẩm cuối cùng. Căn cú vào các đặc trưng này mà người ta có thể chía hệ thống sản xuất chế tạo thành ba loại: —__ Sản xuất để dự trữ Đặc điểm của hình thức sản xuất này là doanh nghiệp chế tạo sẵn các sản phẩm hoàn chỉnh và đưa vào dự trữ trước khi nhận đơn đặt hàng. Các sản phẩm này được sản xuất theo tiêu chuẩn thiết kế định trước của doanh nghiệp hoặc trên cơ sở của kết quả điều tra nhu cầu thị trường. —_ Sản xuất theo đơn đặt hàng Sản xuất theo đơn đặt hàng hay theo hợp đồng là hình thúc sản xuất mà doanh nghiệp tiến hành sản xuất một loại sản phẩm duy nhất theo yêu cầu của khách hàng về số lượng.
kích thước, mẫu mã. Để tiến hành sản xuất, doanh nghiệp phải lập kế hoạch về thời gian mua sắm nguyên vật liệu và chế biến. Loại hình sản xuất này thường phục vụ cho sản xuất sản phẩm đơn chiếc. sản phẩm đa dạng, không có thiết kế định hình trước.
—_ Sản xuất lắp ráp theo đơn đặt hàng Là hình thúc sản xuất giữa hai loại nêu trên, doanh nghiệp chủ động sản xuất chế tạo trước các chỉ tiết, các kiểu mẫu mã, mođun tiêu chuẩn. và sẽ lắp ráp những chi tiết sẵn có để tạo nên sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Căn cứ theo quá trình sản xuất Xét theo quá trình sản xuất, người ta chia ra: —_ Sản xuất liên tục: Là hình thức sản xuất được sử dụng khi sản xuất với nhu cầu lớn, sản phẩm của hệ thống sản xuất này là sản phẩm theo tiêu chuẩn định trước, các tuyến công việc, các máy móc thiết bị được sắp đặt khá ổn định khi chuyển từ chế tạo sản phẩm này sang sản phẩm khác. ‘ — San xudt gidn doan: Là hình thức sản xuất có sự gián đoạn trong quá trình sản xuất, sản xuất với nhu cầu riêng biệt với qui mô nhỏ với khối lượng sản phẩm không lớn, không liên tục, tính lặp lại của quá trình sản xuất thấp đặc biệt trong sản xuất đơn chiếc.
6 se TC&ĐÐHSX c. Căn cứ theo đối tượng sản xuất Xét theo đối tượng sản xuất, người ta chia ra: — Sdn xudt theo dit dn: Là loại hình sản xuất theo một dự án đầu tư xây dựng công trình hay một nhóm công trình như: xây dựng cầu, đường, đập nước. Hoạt động sản xuất theo dự án thường được thực hiện trong một thời gian tương đối dài, khối lượng công tác lớn. ~ Sdn xudt don chiếc: Là sản xuất cho khách hàng riêng biệt với sản phẩm riêng biệt.
khối lượng không lớn. Trong xây dựng nói chung và xây dựng giao thông nói riêng. có khi sản xuất đơn chiếc đồng thời là sản xuất theo dự án. nhưng cũng có khi sản xuất đơn chiếc chỉ là một công trình hoặc cụm công trình trong một dự ấn.
—__ Sản vuất hàng loại: Là hình thức san xuất theo thiết kế định hình trước của doanh nghiệp hoặc theo yêu cầu của khách hàng với khối lượng sản phẩm tương đối lớn. Doanh nghiệp phải tô chức sản xuất liên tục trong khoảng thời gian nhất định. Các hình thức sản xuất dịch vụ Sản xuất địch vụ không tạo ra sản phẩm có hình dạng vật chất cụ thể mà tạo ra sản phẩm vô hình — các dịch vụ. Các dịch vụ có thể phân biệt dựa trên mức độ tiêu chuẩn hoá của nó: —_ Dịch vụ dự án — Dich vu tiéu chuẩn —_ Dịch vụ chế biến _ — Dich vu co thé trai qua cdc dự án như các chương trình quảng cáo, tạo ra một phần mềm.
—_ Các dịch vụ không tạo ra sản phẩm hữu hình như: vận tải, buôn bán. —_ Có hệ thống dịch vụ vừa tạo ra sản phẩm hữu hình vừa tạo ra sản phẩm dịch vụ như: restaurant. Sản xuất dịch vụ khác với sản xuất chế tạo là nó khó đo lường vì nó cung cấp các sản phẩm không có hình dạng vật chất cụ thể, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của nó khó thiết lập và khó kiếm soát. Ngoài ra, trong sản xuất dịch vụ có sự tiếp súc giữa người sản xuất với người tiêu dùng nên các khía cạnh quan hệ giữa sản xuất và marketing thường chồng lên nhau.
KHÁI NIẸM VE TÔ CHÚC SAN XUAT Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp hợp lý các yếu tố của sản xuất để tạo nên sản phẩm cung cấp cho nhu cầu của xã hội. Bộ phận quan trọng của quá trình sản xuất chế tạo lv quá trình công nghệ, đó là quá trình tác động vào đối tượng đề làm thay đối hình đáng. kích thước, tính chất vật lý, hoá học của đối tượng chế biến. Quá trình công nghệ lại chỉa thành nhiều gian đoạn công nghệ khác nhau, căn cứ vào phương pháp chế biến khác nhau.
sử dụng máy móc thiết bị khác nhau. TC&DHSX @ 7 Thí dụ: quá trình dệt vải gồm giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn công nghệ sợi. giai đoạn đệt, giai đoạn hoàn tất. Sản xuất cơ khí lại bao gồm giai đoạn tạo phôi, giai đoạn gia công cơ khí, giai đoạn lắp ráp.
Sản xuất xây dựng đường bao gồm giai đoạn chuẩn bị xây dựng, giai đoạn công nghệ thi công nên đường, giai đoạn công nghệ thị công mặt đường, giai đoạn xây dựng các công trình nhân tạo. giai đoạn hoàn thiện. Môi giai đoạn cóng nghệ lại có thể bao gồm nhiều bước công việc khác nhau hay còn gọi là nguyên công. Bước công việc là đơn vị cơ bản của quá trình sản xuất được thực hiện tại nơi làm việc, do một công nhân hoặc một nhóm công nhân cùng tiến hành trên một đối tượng nhất định.
Thí dụ: Ở giai đoạn công nghệ thi công nền đường đắp người ta có thé chia ra thành các bước công việc như: đào bỏ đất hữu cơ. đào và vận chuyển đất đắp. san đất đắp và đầm lèn. công tác hoàn thiện.
Khi xét bước công việc chúng ta cần phải căn cứ vào cả ba yếu tố: nơi làm việc. công nhân (lực lượng lao động), đối tượng lao động. Chi cần thay đôi một trong ba yếu tố thì bước công việc cũng thay đối. Việc phân chia quá trình công nghệ thành các bước công việc có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chúc và quản lí sản xuất.
Trước hết là việc xác lập định múc hao phí lao động, hao phí máy móc, hao phí vật tư trong điều kiện nhất định. phụ thuộc vào việc nó được sử dụng máy móc gì, loại lao động nào, và trên đối tượng lao động gì. Như vậy việc áp dụng định múc lao động trước hết phải phụ thuộc vào việc phân chia bước công việc. Phân chia bước công việc còn ảnh hướng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị.
Phân chia bước công việc còn có ý nghĩa đến việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.