Khóa luận: Thực trạng và giải pháp tổ chức tự học cho sinh viên ĐH Sài Gòn

Khóa luận phân tích thực trạng việc tổ chức tự học của sinh viên ĐHSG theo tín chỉ, chỉ ra khó khăn, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Trường đại học

Trường đại học Sài Gòn

Chuyên ngành

Giáo dục đại học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2017

79
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Bối cảnh và lý do chọn đề tài nghiên cứu

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước ta tiến hành đổi mới toàn diện theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển nguồn nhân lực đã trở thành yêu cầu bức thiết hàng đầu. Chương trình đào tạo theo tín chỉ được xem là xu hướng tích cực để đáp ứng nhu cầu này. Từ năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ, trong đó quy định rõ rằng tự học sinh viên là thành phần không thể thiếu. Cụ thể, mỗi tín chỉ yêu cầu sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân. Do đó, nếu chỉ trông chờ vào bài giảng trên lớp mà không có ý thức tự học, tự nghiên cứu thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu của chương trình.

1.1. Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh mới

Hội nhập kinh tế đòi hỏi sinh viên phải có khả năng tự học, sáng tạo và chủ động trong học tập. Phương pháp đào tạo theo niên chế không còn phù hợp với xu thế phát triển của xã hội hiện đại. Chương trình tín chỉ mang lại sự linh hoạt, cho phép sinh viên tự lập kế hoạch học tập và phát huy tinh thần độc lập trong nghiên cứu khoa học.

1.2. Vai trò của tự học trong chương trình đào tạo tín chỉ

Tự học sinh viên không chỉ là bổ sung kiến thức mà còn là phương tiện chính để học sinh giữ vai trò trung tâm trong quá trình học tập. Sinh viên cần tự mình tìm tòi, nghiên cứu bằng nhiều cách thức để làm giàu vốn kiến thức. Chỉ khi nào sinh viên thật sự tự giác học tập thì mới có thể đạt được chất lượng giáo dục cao.

II. Thực trạng tổ chức tự học sinh viên tại Đại học Sài Gòn

Từ năm học 2008-2009, trường Đại học Sài Gòn đã triển khai chương trình đào tạo theo tín chỉ và đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế đáng kể về tổ chức tự học sinh viên. Phía nhà trường, cơ sở vật chất còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, bao gồm sách tham khảo không phong phú, khu tự học thiếu chỗ ngồi, và hạ tầng công nghệ chưa hoàn thiện. Đồng thời, một bộ phận giảng viên vẫn quen với cách dạy truyền thống "thầy đọc trò chép" thay vì tạo tương tác. Từ phía sinh viên, ý thức tự học ở nhà hầu như không được kiểm soát, sinh viên vốn quen với phương pháp học "bao cấp" ở phổ thông nên khi bước vào đại học trở nên thụ động.

2.1. Những khó khăn từ phía nhà trường

Nhà trường chưa quan tâm đúng mức đến tổ chức tự học ở các khoa và lớp. Thư viện trường có đầu sách hạn chế, không đủ để hỗ trợ tự học sinh viên. Khu tự học sinh viên thiếu chỗ ngồi, wifi không ổn định, và cơ sở vật chất phòng học còn yếu kém. Các yếu tố này tạo ra những trở ngại lớn cho sinh viên trong thực hiện tự học hiệu quả.

2.2. Tình trạng tự học từ phía sinh viên

Sinh viên chưa thực sự tự giác với tự học vì quen với sự giám sát chặt chẽ. Chúng ta thường thấy tự học ở nhà của sinh viên vô hình trở thành thời gian nghỉ ngơi, vui chơi. Sinh viên chưa biết xây dựng kế hoạch học tập hiệu quả, và tự học tập thường chỉ làm khi giảng viên giao việc. Thiếu sự chủ động tự học sẽ dẫn đến kiến thức thiếu hụt.

III. Những thách thức trong quá trình tự học sinh viên

Khả năng tự học của sinh viên trường ĐHSG hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của chương trình tín chỉ. Sinh viên ít đặt câu hỏi cho giảng viên, sợ phát biểu ý kiến vì lo sợ sai lầm. Khi đến lớp, sinh viên chỉ cố gắng chép hết bài giảng để có tài liệu "đối phó" thi cử. Một bộ phận giảng viên chưa xem trọng tự học sinh viên, không tổ chức các hình thức tự học thường xuyên và không kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của sinh viên. Điều này làm cho tự học trở thành việc tùy thuộc vào ý thức tự giác của từng cá nhân, không có sự hướng dẫn và giám sát thích đáng.

3.1. Thói quen học tập thụ động của sinh viên

Sinh viên quen với học tập theo phương pháp "bao cấp", nên khi chuyển sang tín chỉ trở nên bị động. Tự học trước ở nhà không được ưu tiên, sinh viên chỉ chờ bài giảng trên lớp. Sợ phát biểu ý kiến và thiếu tương tác trong lớp học là những biểu hiện của tâm lý thụ động. Cần thay đổi tâm thức học tập để thích nghi với đào tạo tín chỉ.

3.2. Thiếu hướng dẫn về phương pháp tự học hiệu quả

Sinh viên chưa được trang bị kỹ năng tự họcphương pháp học tập khoa học. Không biết cách xây dựng kế hoạch học tập hợp lý, sinh viên mất nhiều thời gian vô ích. Tự học hiệu quả đòi hỏi phương pháp, kỹ năng quản lý thời gian, nhưng điều này chưa được giảng viên hướng dẫn một cách hệ thống.

IV. Ý nghĩa và hướng giải quyết vấn đề tổ chức tự học sinh viên

Khả năng tự học của sinh viên sẽ quyết định trực tiếp đến hiệu quả giáo dục. Chỉ khi sinh viên thật sự tự học, tự nghiên cứu thì mới làm chủ được tri thức nhân loại, không bao giờ đạt yêu cầu nếu chỉ trông chờ vào bài giảng. Nếu những tồn tại nêu trên không được khắc phục, sản phẩm của giáo dục đại học sẽ là những con người thụ động, không có khả năng sáng tạo. Chất lượng sinh viên sẽ bộc lộ nhiều khiếm khuyết khi ra trường. Do vậy, cần phải có những giải pháp toàn diện nhằm cải thiện tổ chức tự học, từ việc nâng cấp cơ sở vật chất, đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao ý thức tự giác học tập của sinh viên.

4.1. Ý nghĩa của việc khắc phục tình trạng tự học sinh viên

Tự học sinh viên là chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Khi sinh viên biết tự học hiệu quả, họ sẽ trở thành những con người chủ động, sáng tạo, có khả năng tự nghiên cứu. Điều này giúp sinh viên thích nghi với xã hội thay đổi và trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

4.2. Các hướng giải quyết vấn đề

Cần cải thiện cơ sở vật chất nhà trường, mở rộng thư việnkhu tự học. Đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên, tạo tương tác, gợi mở để sinh viên chủ động tự học. Hướng dẫn sinh viên về kỹ năng tự học, quản lý thời gian, và phương pháp học tập khoa học. Tổ chức kiểm tra, đánh giá thường xuyên kết quả tự học của sinh viên.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC TỰ HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1. Một số khái niệm cơ bản 10 1. Tín chỉ Đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo mới lấy người học làm trung tâm được nước ta và hầu hết các nước trên thế giới rất chú trọng. Đã có rất nhiều định nghĩa các nhà nghiên cứu khác nhau về tín chỉ mà xin được nêu ra một số định nghĩa như sau: Trong bài viết của Nguyễn Thị Thanh Minh có nêu lên định nghĩa của James Quann (ĐH Quốc gia Washington) về tín chỉ: “Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn cụ thể, bao gồm: ­ Thời gian lên lớp ­ Thời gian học trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác để được quy định thời khóa biểu ­ Thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vần đề, viết hoặc chuẩn bị bài…; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ chuẩn bị ở nhà) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với môn học ở studio hay phòng thí nghiệm ­ ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị ở nhà ); đối với việc tự nghiên cứu – ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần” [3,tr.

Hay trong bài viết của Nguyễn Thị Thúy Dung có nhắc đến định nghĩa của Phó GS. TS Hoàng Văn Vân như sau: “Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) Học tập trên lớp; ( 2) Học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giảng viên); (3) Tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài.112] Ngoài ra theo Thạc sĩ Mỵ Giang Sơn cho rằng: “Tín chỉ là một đơn vị đo khối lượng lao động học tập của người học ”.Tín chỉ là “đơn vị đo” chứ không 11 phải là một “đại lượng”, đại lượng cần đo là “khối lượng lao động học tập của người học” đo bởi đơn vị là tín chỉ”.23] Tóm lại , tín chỉ là một đơn vị đo toàn bộ khối lượng học tập của một người bình thường bao gồm : thời gian lên lớp, thời gian làm thí nghiệm, thực tập, tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp và thời gian tự học ở nhà (đọc sách, nghiên cứu, giải bài tập, học nhóm hoặc chuẩn bị bài …) .Nếu sinh viên thiếu một trong ba hoạt động này thì SV chưa đạt yêu cầu mà chương trình đào tạo theo tín chỉ đề ra. Tự học Tự học là một hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên tại các trường ĐH. Sinh viên biết tự học sẽ không bao giờ hài lòng với những gì đã học được, luôn trao dồi tri thức, chủ động, sáng tạo trong bất kỳ môi trường làm việc nào, sẽ hình thành thói quen học tập tích cực, đáp ứng được yêu cầu của xã hội đặt ra.

Từ lâu, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục đề cập đến vần đề tự học. Xin liệt kê một số định nghĩa như sau: Trong tác phẩm “Học và dạy các học” của Nguyễn Cảnh Toàn:“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”[5,tr 8­9]. Bên cạnh đó, trong cuốn “Tự học: nhu cầu thời đại” tác giả Nguyễn Hiển Lê đã viết:“Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Có thầy hay không ta không cần biết.

Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được:đó mới là điều kiện quan trọng.14] Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về tự học của các tác giả có thể đưa ra khái niệm về tự học như sau: Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng khả năng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,đánh giá…) và có khi cả 12 cơ bắp (sử dụng các công cụ thực hành), cùng các phẩm chất của cá nhân như: động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (kiên trì, nhẫn nại, không ngại khó, say mê nghiên cứu khoa học, .) để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại và biến tri thức đó thành sở hữu của riêng mình. Các hình thức tự học Tự học là hoạt động rất đa dạng, phong phú bao gồm rất nhiều biểu hiện khác nhau mà sau đây xin được kể ra những biểu hiện cụ thể của tự học như sau: 1.Tự học trên lớp học Nếu chúng ta quan niệm rằng tự học là học ở ngoài tiết dạy của giảng viên thì hơi hẹp. Tự học trên lớp có thể là hình thức tự học được tổ chức tại lớp học như làm bài tập, thảo luận nhóm.mà SV phải tự làm, tự nghiên cứu, thầy cô chỉ là người đứng ở bên ngoài để quan sát trực tiếp và đánh giá quá trình thực hiện của sinh viên. Bên cạnh đó, kết hợp lắng nghe và ghi chép bài thuyết giảng của giảng viên cũng là hình thức tự học trên lớp bởi sinh viên phải tự làm chứ giảng viên không làm thay.

Vậy làm sao để đạt hiệu quả tốt nhất? Có nên vừa nghe giảng vừa ghi chép bài giảng hay không? Theo Nguyễn Cảnh Toàn [5, tr.136]: “Chúng ta có thể cùng một lúc nhận rất nhiều tín hiệu âm thanh khác nhau. Chính vì vậy chúng ta phải tập trung cao độ và có sự lựa chọn tín hiệu. Đặc biệt, khi nghe giảng phải nhanh chóng nắm bắt được tính logic của bài và phải so sánh, đối chiếu với những tư duy, suy nghĩ của mình xem có đúng với lời thầy cô giảng bài hay không, nếu trùng khớp thì người học sẽ cảm thấy hứng thú, nếu suy nghĩ không khớp với bài giảng của thầy cô thì lúc ấy sinh viên nên mạnh dạng phát biểu ý kiến của mình với thầy cô bởi biết đâu cùng một nội dung sẽ có nhiều cách diễn đạt khác nhau, ý kiến mới ấy sẽ làm bài học phong phú hơn, nhưng nếu ý kiến ấy sai thì chúng ta sẽ sửa lại và ghi nhớ lâu hơn”. Chính vì vậy cho thấy rằng, 13 không chỉ tự học ngoài giờ lên lớp quan trọng mà việc tự học trên lớp cũng góp phần rất lớn quyết định kết quả học tập của SV.

Trong giờ học trên lớp, ngoài việc tích cực phát biểu xây dựng bài thì SV phải tập trung cao độ, tránh tư tưởng phân tâm, lơ đãng, suy nghĩ viễn vong đến việc khác, phải biết kết hợp giữa lắng nghe và ghi chép bài giảng. Nếu trong quá trình học, SV cố gắng chép hết bài giảng mà không chú ý lắng nghe, phân tích thì kết quả mang lại sẽ thật thậm tệ. Những điều chép được sẽ như “cái xác không hồn”, về nhà đọc lại SV sẽ không hiểu ý thầy cô muốn nói gì và những điều chép lại không giúp ích gì cho việc tự học. Hay nếu quá tập trung vào nghe giảng mà không ghi chép thì những lời giảng SV sẽ như “gió thoảng mây bay” chẳng đọng lại được gì trong trí nhớ.

Bởi vậy, việc kết hợp giữa lắng nghe và ghi chép nhanh (trong quá trình chép sẽ có sự phân tích của trí óc) là phương pháp học tập đem lại kết quả cao. SV cần phải có những ký hiệu hay những từ viết tắt để ghi chép nhanh thông tin thầy cô cung cấp và những kiến thức mới biết, những kiến thức chưa hiểu có thể gạch chân để tự tìm hiểu hay hỏi giảng viên tại lớp. Tự học ngoài lớp học Là các hình thức tự học ở ngoài lớp, ngoài trường mà SV chỉ đóng vai trò là tư vấn, hướng dẫn và trong một thời gian nhất định SV phải phải cho ra sản phẩm cụ thể. Học nhóm Học nhóm là hình thức tự học tích cực trong chương trình đào tạo theo tín chỉ, ngày càng được chú trọng tổ chức.

Với cách học này, người học được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi một thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào công việc chung của nhóm và được phân công một cách rõ ràng. Số lượng người học trong một nhóm thường không xác định tùy thuộc vào nhiệm vụ khó hay dễ, lớp học đông hay ít. Một nhóm học đem lại hiệu quả 14 làm việc cao khi mọi thành viên trong nhóm đều tham gia đòng góp ý kiến của mình, các ý kiến đưa ra đều được các bạn trong nhóm lắng nghe và được ghi nhận. Các ý kiến của các thành viên đồng nhất đôi khi cũng không tốt mà cần đến sự không đồng nhất giữa các thành viên trong nhóm cũng tạo nên chất xúc tác làm quá trình học nhóm đạt hiểu quả hơn.

Sự không đồng nhất ấy sẽ sản sinh ra những ý kiến, phát hiện mới có ích cho bài tập chung của nhóm. Từ những ý kiến không đồng nhất ấy người học sẽ giải quyết mâu thuẫn và thuyết phục người khác ủng hộ ý kiến của mình, mà điều đó sẽ rất tốt cho tương lai của các bạn cho công việc sau này nhưng cho dù như thế nào thì rằng tất cả ý kiến thảo luận của nhóm là vì lợi ích chung của nhóm tránh để cái tôi lên cao, cự cãi, khó chịu vì ý kiến bị bát bỏ Tác giả Trần Mai Ước cho rằng: Trong học tập theo nhóm “Nhiệm vụ cả nhóm mang tính cộng tác vì người học không thể giải quyết một mình mà phải cần đến sự cộng tác thực sự giữa các thành viên trong nhóm, tuy nhiên, vẫn phải đảm bảo tính độc lập giữa các thành viên. Hơn nữa, người dạy phải có yêu cầu rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác giữa người học có hiệu quả tốt nhất. Người dạy không nên can thiệp quá sâu vào nội dung mà chỉ giữ vai trò chỉ dẫn thực sự trong các nhóm về các vấn đề sau: Tổ chức lấy ý kiến, hướng dẫn thảo luận; cung cấp những thông tin cần thiết; theo dõi ý kiến; quan điểm của mỗi một thành viên; duy trì hướng đi cho các nhóm theo đúng nhiệm vụ được giao, tránh trường hợp một thành viên làm cả nhóm hưởng thành quả”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ