CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC TỰ HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1. Một số khái niệm cơ bản 10 1. Tín chỉ Đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo mới lấy người học làm trung tâm được nước ta và hầu hết các nước trên thế giới rất chú trọng. Đã có rất nhiều định nghĩa các nhà nghiên cứu khác nhau về tín chỉ mà xin được nêu ra một số định nghĩa như sau: Trong bài viết của Nguyễn Thị Thanh Minh có nêu lên định nghĩa của James Quann (ĐH Quốc gia Washington) về tín chỉ: “Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn cụ thể, bao gồm: Thời gian lên lớp Thời gian học trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác để được quy định thời khóa biểu Thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vần đề, viết hoặc chuẩn bị bài…; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ chuẩn bị ở nhà) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với môn học ở studio hay phòng thí nghiệm ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị ở nhà ); đối với việc tự nghiên cứu – ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần” [3,tr.
Hay trong bài viết của Nguyễn Thị Thúy Dung có nhắc đến định nghĩa của Phó GS. TS Hoàng Văn Vân như sau: “Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) Học tập trên lớp; ( 2) Học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giảng viên); (3) Tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài.112] Ngoài ra theo Thạc sĩ Mỵ Giang Sơn cho rằng: “Tín chỉ là một đơn vị đo khối lượng lao động học tập của người học ”.Tín chỉ là “đơn vị đo” chứ không 11 phải là một “đại lượng”, đại lượng cần đo là “khối lượng lao động học tập của người học” đo bởi đơn vị là tín chỉ”.23] Tóm lại , tín chỉ là một đơn vị đo toàn bộ khối lượng học tập của một người bình thường bao gồm : thời gian lên lớp, thời gian làm thí nghiệm, thực tập, tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp và thời gian tự học ở nhà (đọc sách, nghiên cứu, giải bài tập, học nhóm hoặc chuẩn bị bài …) .Nếu sinh viên thiếu một trong ba hoạt động này thì SV chưa đạt yêu cầu mà chương trình đào tạo theo tín chỉ đề ra. Tự học Tự học là một hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên tại các trường ĐH. Sinh viên biết tự học sẽ không bao giờ hài lòng với những gì đã học được, luôn trao dồi tri thức, chủ động, sáng tạo trong bất kỳ môi trường làm việc nào, sẽ hình thành thói quen học tập tích cực, đáp ứng được yêu cầu của xã hội đặt ra.
Từ lâu, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục đề cập đến vần đề tự học. Xin liệt kê một số định nghĩa như sau: Trong tác phẩm “Học và dạy các học” của Nguyễn Cảnh Toàn:“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”[5,tr 89]. Bên cạnh đó, trong cuốn “Tự học: nhu cầu thời đại” tác giả Nguyễn Hiển Lê đã viết:“Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Có thầy hay không ta không cần biết.
Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được:đó mới là điều kiện quan trọng.14] Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về tự học của các tác giả có thể đưa ra khái niệm về tự học như sau: Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng khả năng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,đánh giá…) và có khi cả 12 cơ bắp (sử dụng các công cụ thực hành), cùng các phẩm chất của cá nhân như: động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (kiên trì, nhẫn nại, không ngại khó, say mê nghiên cứu khoa học, .) để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại và biến tri thức đó thành sở hữu của riêng mình. Các hình thức tự học Tự học là hoạt động rất đa dạng, phong phú bao gồm rất nhiều biểu hiện khác nhau mà sau đây xin được kể ra những biểu hiện cụ thể của tự học như sau: 1.Tự học trên lớp học Nếu chúng ta quan niệm rằng tự học là học ở ngoài tiết dạy của giảng viên thì hơi hẹp. Tự học trên lớp có thể là hình thức tự học được tổ chức tại lớp học như làm bài tập, thảo luận nhóm.mà SV phải tự làm, tự nghiên cứu, thầy cô chỉ là người đứng ở bên ngoài để quan sát trực tiếp và đánh giá quá trình thực hiện của sinh viên. Bên cạnh đó, kết hợp lắng nghe và ghi chép bài thuyết giảng của giảng viên cũng là hình thức tự học trên lớp bởi sinh viên phải tự làm chứ giảng viên không làm thay.
Vậy làm sao để đạt hiệu quả tốt nhất? Có nên vừa nghe giảng vừa ghi chép bài giảng hay không? Theo Nguyễn Cảnh Toàn [5, tr.136]: “Chúng ta có thể cùng một lúc nhận rất nhiều tín hiệu âm thanh khác nhau. Chính vì vậy chúng ta phải tập trung cao độ và có sự lựa chọn tín hiệu. Đặc biệt, khi nghe giảng phải nhanh chóng nắm bắt được tính logic của bài và phải so sánh, đối chiếu với những tư duy, suy nghĩ của mình xem có đúng với lời thầy cô giảng bài hay không, nếu trùng khớp thì người học sẽ cảm thấy hứng thú, nếu suy nghĩ không khớp với bài giảng của thầy cô thì lúc ấy sinh viên nên mạnh dạng phát biểu ý kiến của mình với thầy cô bởi biết đâu cùng một nội dung sẽ có nhiều cách diễn đạt khác nhau, ý kiến mới ấy sẽ làm bài học phong phú hơn, nhưng nếu ý kiến ấy sai thì chúng ta sẽ sửa lại và ghi nhớ lâu hơn”. Chính vì vậy cho thấy rằng, 13 không chỉ tự học ngoài giờ lên lớp quan trọng mà việc tự học trên lớp cũng góp phần rất lớn quyết định kết quả học tập của SV.
Trong giờ học trên lớp, ngoài việc tích cực phát biểu xây dựng bài thì SV phải tập trung cao độ, tránh tư tưởng phân tâm, lơ đãng, suy nghĩ viễn vong đến việc khác, phải biết kết hợp giữa lắng nghe và ghi chép bài giảng. Nếu trong quá trình học, SV cố gắng chép hết bài giảng mà không chú ý lắng nghe, phân tích thì kết quả mang lại sẽ thật thậm tệ. Những điều chép được sẽ như “cái xác không hồn”, về nhà đọc lại SV sẽ không hiểu ý thầy cô muốn nói gì và những điều chép lại không giúp ích gì cho việc tự học. Hay nếu quá tập trung vào nghe giảng mà không ghi chép thì những lời giảng SV sẽ như “gió thoảng mây bay” chẳng đọng lại được gì trong trí nhớ.
Bởi vậy, việc kết hợp giữa lắng nghe và ghi chép nhanh (trong quá trình chép sẽ có sự phân tích của trí óc) là phương pháp học tập đem lại kết quả cao. SV cần phải có những ký hiệu hay những từ viết tắt để ghi chép nhanh thông tin thầy cô cung cấp và những kiến thức mới biết, những kiến thức chưa hiểu có thể gạch chân để tự tìm hiểu hay hỏi giảng viên tại lớp. Tự học ngoài lớp học Là các hình thức tự học ở ngoài lớp, ngoài trường mà SV chỉ đóng vai trò là tư vấn, hướng dẫn và trong một thời gian nhất định SV phải phải cho ra sản phẩm cụ thể. Học nhóm Học nhóm là hình thức tự học tích cực trong chương trình đào tạo theo tín chỉ, ngày càng được chú trọng tổ chức.
Với cách học này, người học được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi một thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào công việc chung của nhóm và được phân công một cách rõ ràng. Số lượng người học trong một nhóm thường không xác định tùy thuộc vào nhiệm vụ khó hay dễ, lớp học đông hay ít. Một nhóm học đem lại hiệu quả 14 làm việc cao khi mọi thành viên trong nhóm đều tham gia đòng góp ý kiến của mình, các ý kiến đưa ra đều được các bạn trong nhóm lắng nghe và được ghi nhận. Các ý kiến của các thành viên đồng nhất đôi khi cũng không tốt mà cần đến sự không đồng nhất giữa các thành viên trong nhóm cũng tạo nên chất xúc tác làm quá trình học nhóm đạt hiểu quả hơn.
Sự không đồng nhất ấy sẽ sản sinh ra những ý kiến, phát hiện mới có ích cho bài tập chung của nhóm. Từ những ý kiến không đồng nhất ấy người học sẽ giải quyết mâu thuẫn và thuyết phục người khác ủng hộ ý kiến của mình, mà điều đó sẽ rất tốt cho tương lai của các bạn cho công việc sau này nhưng cho dù như thế nào thì rằng tất cả ý kiến thảo luận của nhóm là vì lợi ích chung của nhóm tránh để cái tôi lên cao, cự cãi, khó chịu vì ý kiến bị bát bỏ Tác giả Trần Mai Ước cho rằng: Trong học tập theo nhóm “Nhiệm vụ cả nhóm mang tính cộng tác vì người học không thể giải quyết một mình mà phải cần đến sự cộng tác thực sự giữa các thành viên trong nhóm, tuy nhiên, vẫn phải đảm bảo tính độc lập giữa các thành viên. Hơn nữa, người dạy phải có yêu cầu rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác giữa người học có hiệu quả tốt nhất. Người dạy không nên can thiệp quá sâu vào nội dung mà chỉ giữ vai trò chỉ dẫn thực sự trong các nhóm về các vấn đề sau: Tổ chức lấy ý kiến, hướng dẫn thảo luận; cung cấp những thông tin cần thiết; theo dõi ý kiến; quan điểm của mỗi một thành viên; duy trì hướng đi cho các nhóm theo đúng nhiệm vụ được giao, tránh trường hợp một thành viên làm cả nhóm hưởng thành quả”.