Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ du lịch Chương 2. Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình Chương 3. Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2020 – 2015, tầm nhìn đến 2030 và giải pháp thực hiện 14 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH 1. Các khái niệm có liên quan 1. Du lịch Quan niệm về DL luôn là một vấn đề đƣợc tranh luận trong suốt một thời gian dài. Từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch International Union of Official Travel Organization (IOUTO) năm 1925 tại Hà Lan, theo Hiệp hội IOUTO khái niệm du lịch đƣợc hiểu một cách đầy đủ nhƣ sau: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cƣ trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lƣu lại tạm thời bên ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn hóa kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa” (P.
Theo điểm 1, điều 10, trang 8, Pháp lệnh du lịch do Chủ tịch nƣớc ta kí ngày 20/2/1999: “Du lịch là hoạt động con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một thời gian nhất định”. Theo sổ tay Thuật ngữ Địa lý: “Du lịch là ngành dịch vụ chuyên lo khai thác các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa để tổ chức các cuộc tham quan, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, bồi dƣỡng sức khỏe nâng cao hiểu biết cho nhân dân trong nƣớc cũng nhƣ khách nƣớc ngoài”. Theo điều 3, chƣơng 1 của Luật du lịch 2017 “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dƣỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [22]. Nhƣ vậy, DL là một ngành kinh tế dựa trên tài nguyên du lịch (TNDL) phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí, tham quan và nghỉ dƣỡng của con ngƣời.
Tài nguyên du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017) “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa”. “Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể đƣợc sử dụng cho mục đích du lịch”. 15 “Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con ngƣời có thể đƣợc sử dụng cho mục đích du lịch”.
Tổ chức lãnh thổ du lịch Tổ chức lãnh thổ (TCLT) xã hội gồm hai hình thức chủ yếu: TCLT nền sản xuất xã hội và TCLT địa bàn cƣ trú con ngƣời. TCLT nền sản xuất xã hội bao gồm hàng loạt các hình thức TCLT cấp thấp hơn với tƣ cách là các ngành kinh tế nhƣ: TCLT công nghiệp, TCLT nông nghiệp. Các hình thức này nếu đƣợc tổ chức hợp lí thì sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội. Trong nghiên cứu DL, TCLT là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu, bởi vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt động DL nếu không xem xét khía cạnh không gian lãnh thổ của nó, để hoạt động DL phát triển hiệu quả, vừa mang tính chất nghỉ ngơi, chữa bệnh.
vừa là một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nƣớc trên thế giới, TCLTDL phải hợp lí khoa học. Thực tế, TCLTDL chính là sự phân hóa không gian của DL căn cứ trên các điều kiện tài nguyên DL, hiện trạng CSHT, CSVCKT và lao động ngành cùng các mối liên hệ với điều kiện phát sinh của ngành với các ngành khác, với các địa phƣơng khác và rộng hơn là mối liên hệ với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Nhƣ vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, TCLTDL là một hệ thống liên kết không gian của các đối tƣợng DL và các cơ sở phục vụ có liên quan, dựa trên việc sử dụng tối ƣu các nguồn tài nguyên DL (tự nhiên và văn nhân), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trƣờng) cao nhất. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch TCLTDL là một dạng của tổ chức lãnh thổ KTXH.
Cùng với sự phát triển của xã hội, trƣớc hết là của sức sản xuất, đã dần dần xuất hiện các hình thức TCLTDL. Trên bình diện vĩ mô có 3 hình thức chủ yếu: hệ thống lãnh thổ DL, cụm tƣơng hỗ phát triển DL (thể tổng hợp lãnh thổ DL), vùng DL. Hệ thống lãnh thổ du lịch “Hệ thống lãnh thổ du lịch thƣờng đƣợc coi là hệ thống xã hội đƣợc tạo thành bởi các yếu tố có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, đó là: nhóm ngƣời đi du lịch, các tổng thể tự nhiên, văn hoá - lịch sử, cơ sở vật chất - kĩ thuật, đội ngũ cán bộ công nhân viên và bộ phận tổ chức quản lý. Nét đặc trƣng quan trọng của hệ thống lãnh thổ du lịch là tính hoàn chỉnh về chức năng và lãnh thổ” [10, trang 100 ].
16 Về phƣơng diện cấu trúc, hệ thống LTDL là một hệ thống bao gồm nhiều thành phần có mối liên hệ chặt chẽ. Đó là một hệ thống mở, phức tạp gồm có cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài. Cấu trúc bên trong bao gồm các nhân tố hoạt động với sự tác động qua lại, còn cấu trúc bên ngoài gồm các mối liên hệ với điều kiện phát sinh và các hệ thống khác. Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính hỗn hợp, có đủ các thành phần tự nhiên, kinh tế, xã hội và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản khác nhau.
Về phƣơng diện hệ thống, hệ thống LTDL đƣợc cấu thành bởi nhiều phân hệ khác nhau về bản chất, nhƣng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Đó là các phân hệ khách du lịch, tổng thể tự nhiên, lịch sử, văn hoá, các công trình kĩ thuật, cán bộ phục vụ và điều khiển. Phân hệ khách du lịch là phân hệ trung tâm, quyết định những yêu cầu với phân hệ khác của hệ thống bởi vì các thành phần này phụ thuộc vào đặc điểm của khách DL. Các đặc trƣng của phân hệ khách là cấu trúc và lƣợng nhu cầu, tính lựa chọn, tính mùa vụ và tính đa dạng của luồng khách DL.
Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử - văn hóa là phân hệ tham gia hệ thống với tƣ cách là tài nguyên, là điều kiện để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi DL và là cơ sở lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống. Tổng thể này có sức chứa, độ tin cậy, tính thích hợp, tính ổn định và tính hấp dẫn. Phân hệ này đƣợc đặc trƣng bằng lƣợng nhu cầu, diện tích phân bố và thời gian khai thác. Phân hệ cơ sở vật chất - kỹ thuật là phân hệ đảm bảo cho cuộc sống bình thƣờng của khách du lịch, nhân viên phục vụ và những nhu cầu giải trí đặc biệt (chữa bệnh, tham quan, du lịch…).
Toàn bộ CSVCKT là điều kiện cần thiết để phát triển DL. Nét đặc trƣng của phân hệ là sức chứa, tính đa dạng, tính thích hợp, mức độ chuẩn bị để khai thác. Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ là phân hệ hoàn thành chức năng dịch vụ cho du khách và đảm bảo cho các xí nghiệp hoạt động bình thƣờng. Đặc trƣng của phân hệ này là số lƣợng, trình độ chuyên môn - nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ nhân viên và mức độ đảm bảo của lực lƣợng lao động.
17 Luồng khách du lịch Các mối liên hệ bên trong hệ thống Các mối liên hệ với hệ thống khác Các mối liên hệ thông tin giữa I và II Hìn 1.Bƣc ơvar p 1975) Nhƣ vậy, TCLTDL là một hệ thống bao gồm nhiều phân hệ có mối quan hệtƣơng tác và bổ trợ nhau. Cụm tương hỗ phát triển du lịch Cụm tƣơng hỗ phát triển DL trƣớc đây đƣợc xem là thể tổng hợp LTDL theo quan niệm của các nhà địa lí Xô Viết.“Cụm tƣơng hỗ phát triển du lịch là tập hợp theo khu vực các doanh nghiệp, nhà cung cấp và dịch vụ du lịch có mối liên kết với nhau” [ 10, trang 103]. Tại một khu vực địa lí nhất định có nhiều doanh nghiệp DL liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau, phối hợp với nhau; nhờ đó làm tăng hiệu quả khai thác TNDL,CSVCKT, giảm bớt chi phí đầu vào, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Cụm tƣơng hỗ phát triển DL hình thành khi các lợi thế cạnh tranh thúc đẩy hoặc dẫn đến việc gia tăng sự bố trí và sự phát triển các doanh nghiệp DL và dịch vụ thuộc các lĩnh vực khác nhau, nhƣng cần đến nhau để tận dụng các cơ hội qua liên kết địa lí trong một lãnh thổ nhất định.
Cụm tƣơng hỗ phát triển DL đƣợc hình thành trên những điều kiện sau: 18 + Một không gian địa lí nhất định. + Có một hoặc một vài doanh nghiệp du lịch đóng vai trò hạt nhân. Các doanh nghiệp DL tự nguyện liên kết với nhau thông qua hợp đồng kinh tế hoặc biên bản thỏa thuận liên kết và trên cơ sở đó cùng thu đƣợc lợi ích kinh tế, cùng có đƣợc sự cạnh tranh cần thiết. + Chính quyền địa phƣơng khuyến khích liên kết thành cụm và tạo điều kiện hỗtrợ các doanh nghiệp thực thi nguyện vọng của mình.
Vùng du lịch Theo E.A Kotliarov (1978), vùng du lịch là: 1) Một lãnh thổ hoàn chỉnh với sự kết hợp các điều kiện, đối tƣợng và chuyên môn hoá DL; 2) Không chỉ là lãnh thổ để nghỉ ngơi, chữa bệnh, giải trí mà còn là một cơ chế kinh tế hành chính phức tạp; 3) Có các xí nghiệp nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, xây dựng và các cơ sở văn hoá; 4) Hình thành do phân công lao động theo lãnh thổ trong lĩnh vực phi sản xuất. Theo quan điểm của N.