CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài 1.
Các nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm Vấn đề hoạt động trải nghiệm không phải là vấn đề mới với nhiều nước trên thế giới. Lý luận về hoạt động trải nghiệm được nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học quan tâm nghiên cứu và hoàn thiện từ khá sớm. Hệ thống lý luận về hoạt động trải nghiệm tuy có nhiều nghiên cứu khác nhau song được trình bày thống nhất với hệ thống lý luận về hoạt động dạy học: * Hướng nghiên cứu thứ nhất: Tổ chức hoạt động trải nghiệm phát triển các giác quan. Janet Humphyryes có đề cập đến vấn đề này, ông cho rằng: “Trẻ từ 0 – 6 tuổi luôn khám phá thế giới bằng các giác quan, trẻ tiếp thu tốt nhất thông qua các giác quan của mình.
Trẻ có thể tiếp thu tốt hơn khi chúng tham gia vào các hoạt động mà qua đó trẻ giao tiếp trực tiếp với thế giới tự nhiên và xã hội”.A Coomenxki, nhà giáo dục người Tiệp Khắc, Ông cũng cho rằng: “Cần tận dụng mọi giác quan của học sinh để chúng có thể sờ, mó, ngửi, nhìn, nghe, nếm những thứ cần thiết trong phạm vi có thể. Vì sẽ không có gì trong trí tuệ nếu trước đó nó chưa có gì trong cảm giác”.D Usinski, nhà giáo dục học người Nga thì “Tính trực quan phải là cơ sở quan trọng nhất của việc dạy học” [17, tr52] vì những hình ảnh đặc biệt được giữ lại trong óc học sinh đều thu thập được thông qua trực quan, ông đánh giá và đề cao đồ dùng trực quan, là cái ban đầu và nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người. Năm 1960, Jean Piaget (1896 1980) – nhà tâm lý và giáo dục người Thụy Sĩ, trong thuyết phát triển nhận thức của mình, ông cho rằng học tập là quá trình cá nhân 7 hình thành các tri thức cho mình. Đó là quá trình cá nhân tổ chức các hành động tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dưới dạng sơ đồ nhận thức.
Trong rất nhiều quan điểm, triết lý khác nhau về giáo dục trải nghiệm, không thể không nhắc đến quan điểm giáo dục Montessori. Montessori khẳng định: "Trẻ tự đào luyện mình trong mối quan hệ với môi trường" [26, tr60]. Có nghĩa là những gì mà trẻ có được phải "thông qua hoàn cảnh sống bên ngoài", thông qua hoạt động tương tác trực tiếp của trẻ với môi trường. Một trong những tư tưởng triết lý của Montessori là chúng ta "không nên coi trọng trí óc hơn là đôi tay, mà phải kết hợp cả hoạt động của trí óc với đôi tay tạo thành một hoạt động sáng tạo song hành" [26, tr59].
Montessori gọi đôi tay là công cụ của trí tuệ và nhận định "đôi tay phối hợp với bộ não để tạo nên trí thông minh của trẻ". Như vậy, "trải nghiệm" theo quan điểm Montessori nhấn mạnh việc học được thực hiện thông qua các tương tác với môi trường bằng sự kết hợp của nhận thức cảm tính và lý tính (sự phối hợp của đôi tay và trí óc) và cho rằng đó là một phần không thể thiếu để trẻ phát triển và hoàn thiện. Vai trò của trẻ trong quá trình trải nghiệm không chỉ là người tham gia mà chính là chủ thể thực hiện các tương tác với đối tượng; thông qua quá trình tương tác này mà kiến tạo những kiến thức mới trở thành kinh nghiệm của bản thân. Các công trình nghiên cứu quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý của trẻ đặc biệt là các giác quan.
Chính vì vậy, khi giảng dạy giáo viên phải dựa vào những gì mà trẻ hứng thú và muốn tìm hiểu và tạo cơ hội cho trẻ phát huy tối đa các giác quan của mình trong quá trình học tập. Trẻ có thể hiểu tốt hơn khi chúng tham gia vào các hoạt động mà qua đó trẻ giao tiếp trực tiếp với thế giới tự nhiên và xã hội. * Hướng nghiên cứu thứ hai: Học tập dựa vào trải nghiệm Cha đẻ của giáo dục bằng hoạt động trải nghiệm là nhà giáo dục người Mỹ tên là John Dewey (18951992). Dewey được coi là một nhà tư tưởng lớn nhất về giáo dục của thế kỷ XX, thuyết của ông về giáo dục trải nghiệm vẫn tiếp tục được đọc và thảo luận rất nhiều, không phải trong phạm vi giáo dục mà còn trong cả triết học và tâm lý học.
Công trình của ông đã được công bố lần đầu tiên vào năm 1938. 8 Theo Dewey, “Giáo dục không phải là thu nhận mà là hành động” [17, tr131] và việc học phải là sự tổng kết kinh nghiệm hằng ngày của trẻ. Vai trò của học đường là đi từ những kinh nghiệm ngây thơ này và tổ chức chúng lại thành khoa học. Ông cũng cho rằng chúng ta học được một điều gì đó từ những trải nghiệm, kể cả những điều tốt lẫn không tốt đều tích lũy kinh nghiệm và nó ảnh hưởng tới bản chất và bản tính của con người và những kinh nghiệm trong tương lai.
Makarenko – nhà sư phạm nổi tiếng của nước Nga đầu thế kỷ XX, cũng đã nói: “Tôi kiên trì nói rằng, các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không nên để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học mà đáng ra trên mỗi mét vuông của đất nước ta”. Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trên lớp.[19] Các công trình nghiên cứu tập trung nghiên cứu và nhấn mạnh vào vai trò và bản chất giáo dục trải nghiệm. Đại diện là các tác giả như: Dewey, Carl Rogers, Philips, Joy Palmer, Makarenko. đặc biệt là tác giả Makarenko nói: trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trên lớp.
Một lần nữa ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm thực tế ở ngoài trường học. Phương pháp giáo dục STEAM cho rằng không phải là để học sinh trở thành những nhà toán học, nhà khoa học, kỹ sư hay những kỹ thuật viên mà là “xây dựng cho học sinh có kỹ năng, có thể được sử dụng để vận dụng và phát triển trong thế giới công nghệ hiện đại ngày nay”. Colombia, nơi khởi nguồn của mô hình VNEN, từ năm 1992 trẻ em nghèo của nước này đã được giáo dục bằng cách thực hành thay vì học để thi và kết quả là những trẻ em nghèo học trong trường học theo mô hình này phát triển tốt hơn các bạn cùng lứa trong các trường học truyền thống. Lúc này, dạy học theo mô hình VNEN được các thành phố của Colombia xem xét như một con đường phá vỡ mô hình trường công truyền thống.
[27] 9 “Giáo dục trải nghiệm” bước thêm một bước tiến mạnh mẽ hơn khi vào năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về Phát triển bền vững, chương trình “Dạy và học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua, trong đó có học phần quan trọng về “Giáo dục trải nghiệm” được giới thiệu, phổ biến và phát triển sâu rộng. Ngày nay, giáo dục thông qua hoạt động trải nghiệm đang tiếp tục phát triển và hình thành mạng lưới rộng lớn với những cá nhân, tổ chức giáo dục, trường học trên toàn thế giới ứng dụng. UNESCO cũng nhìn nhận giáo dục thông qua hoạt động trải nghiệm như là một triển vọng tốt cho giáo dục toàn cầu trong nhiều thập kỷ tới. Tại Hàn Quốc (một trong số những quốc gia có nền giáo dục phát triển nhất khu vực), trong cuốn “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo” – Bộ Khoa học Kỹ thuật và Giáo dục Hàn Quốc 2009, đã nói tới một trong những đổi mới của giáo dục Hàn Quốc là hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là những hoạt động nằm ngoài trong hệ thống các môn học trong nhà trường, đó là những hoạt động tự chủ, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động định hướng. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo Hàn Quốc không tách rời hệ thống các môn học trong nhà trường mà có quan hệ tương tác bổ trợ nhau để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, kỹ năng sống và năng lực cần có trong xã hội hiện đại. Hoạt động này mang tính thực tiễn rất cao, gắn bó với cộng đồng, đời sống, có tính tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục. Tóm lại, nghiên cứu của các nhà tâm lý học, các nhà giáo dục học cũng như mô hình học tập trải nghiệm và các nước trên thế giới đang tiến hành đều khẳng định rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong việc hình thành và phát triển năng lực học sinh.
Các nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ mầm non * Hướng nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ và phát triển vốn từ cho trẻ mầm non. Đối với trẻ em, sự phát triển ngôn ngữ được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn tiền ngôn ngữ (dưới 12 tháng tuổi) và giai đoạn ngôn ngữ (từ 12 tháng tuổi trở lên). Ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng đặc biệt trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi. Một trong những nhiệm vụ 10 hàng đầu của việc phát triển ngôn ngữ đó là phát triển vốn từ cho trẻ, bởi vốn từ có vai trò quan trọng đối với trẻ, là công cụ hữu hiệu để trẻ hiểu và nắm bắt thông tin, giúp trẻ giao tiếp và lĩnh hội tri thức.
Trên thế giới và cả ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ cũng như vai trò của vốn từ nói riêng, tiêu biểu là: E. Smirnova đề cập đến trong bài viết “Phát triển lời nói cho trẻ Nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên”. Tác giả cho rằng trẻ lĩnh hội các chuẩn mực ngôn ngữ, tiếp thu và mở rộng vốn từ thông qua việc giao tiếp với người lớn. Tuy nhiên, những từ ngữ trẻ nghe thấy có thể trở nên thụ động và không bao giờ được sử dụng.
Chính việc giao tiếp với bạn giúp cho vốn từ thụ động của trẻ trở nên tích cực thông qua những tình huống cụ thể nhất định. Theo Chomsky (1965) và một số tác giả khác cho rằng trẻ có khả năng lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh.