Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - kỹ năng xã hội và thẩm mỹ của trẻ em. Trong các lĩnh vực phát triển, ngôn ngữ được xác định là công cụ căn bản nhất giúp trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi và hình thành nhân cách. Giai đoạn từ 2 đến 5 tuổi được xem là "thời kỳ phát cảm" ngôn ngữ, khi trẻ có tốc độ phát triển mạnh mẽ về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Nhà giáo dục E. Tikheeva từng nhận định việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khâu trọng tâm trong trường mẫu giáo và là tiền đề cho mọi sự thành công tiếp theo. Để trẻ hình thành khả năng diễn đạt mạch lạc, việc mở rộng và tích cực hóa vốn từ là yêu cầu bắt buộc, bởi vốn từ chính là chất liệu cấu thành lời nói và tư duy.
Về mặt phương thức giáo dục, hoạt động trải nghiệm mang lại hiệu quả cao nhờ gắn liền việc học với hành động trực tiếp. Như triết gia giáo dục John Dewey từng khẳng định: "Nếu bạn nói, tôi sẽ quên. Nếu bạn chỉ dẫn, tôi sẽ nhớ một nửa. Và nếu bạn để tôi làm, tôi sẽ không thể quên." Thông qua các hoạt động trải nghiệm, trẻ được trực tiếp quan sát, tiếp xúc, chiếm lĩnh tri thức và phát triển ngôn ngữ tự nhiên. Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn tại các trường mầm non hiện nay cho thấy việc tổ chức thực hành trải nghiệm cho trẻ còn hạn chế về số lượng, nội dung còn nghèo nàn, mang tính rập khuôn theo các tài liệu có sẵn trong chương trình. Đa số giáo viên còn lúng túng trong khâu thiết kế và tổ chức các hoạt động mang tính mở, chưa linh hoạt điều chỉnh theo đặc điểm cá nhân trẻ và điều kiện thực tế của từng địa phương. Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Bùi Thị Hồng Thuận đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi" dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Thanh Phương tại Trường Đại học Hùng Vương (2022).
Khóa luận xác định mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, khóa luận đề xuất quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm và thiết kế một số hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4–5 tuổi, góp phần phát triển ngôn ngữ và đáp ứng định hướng đổi mới giáo dục mầm non hiện nay.
- Hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
- Xây dựng cơ sở lý luận của quá trình tổ chức một số hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4–5 tuổi.
- Điều tra thực trạng và mức độ biểu hiện của tổ chức một số hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4–5 tuổi.
- Đề xuất quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm và thiết kế một số hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4–5 tuổi.
- Thực nghiệm sư phạm các biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4–5 tuổi.
Khóa luận xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tổ chức một số hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4–5 tuổi ở trường mầm non.
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu việc tổ chức hoạt động trải nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ 4–5 tuổi trong phạm vi 4 chủ đề giáo dục: Chủ đề Gia đình, Chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên, Chủ đề Nghề nghiệp, và Chủ đề Tết và mùa xuân.
- Phạm vi địa bàn: Khảo sát và triển khai trên đối tượng trẻ 4–5 tuổi tại hai cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ: Trường Mầm non Hòa Phong và Trường Mầm non Đất Việt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các quan điểm giáo dục học, tâm lý học và ngôn ngữ học trong và ngoài nước, kết hợp với các văn bản quy phạm hiện hành:
- Khung lý thuyết về giáo dục trải nghiệm: Tác giả kế thừa lý luận cảm giác và trực quan của J.A. Comenius (A. Coomenxki), K.D. Ushinsky (D. Usinski) và Janet Humphyryes; thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget; triết lý giáo dục Maria Montessori về việc kết hợp hoạt động của đôi tay với trí óc qua tương tác môi trường; tư tưởng giáo dục trải nghiệm của John Dewey (1938); quan điểm giáo dục ngoài lớp học của A.S. Makarenko; mô hình học tập qua trải nghiệm của David Kolb (1984); phương pháp giáo dục STEAM; mô hình trường học VNEN tại Colombia (1992); chương trình "Dạy và học vì một tương lai bền vững" của UNESCO (2002); và mô hình hoạt động trải nghiệm sáng tạo của Bộ Khoa học Kỹ thuật và Giáo dục Hàn Quốc (2009).
- Khung lý thuyết về phát triển ngôn ngữ và vốn từ: Lý thuyết về bản chất xã hội của ngôn ngữ và thuyết "Vùng phát triển gần nhất" của L.S. Vygotsky (J. Vưgotxki); quan điểm về năng lực lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh của N. Chomsky (1965); nghiên cứu về sự chuyển hóa từ lời nói duy kỷ sang lời nói xã hội hóa của Jean Piaget; quan điểm giao tiếp ngôn ngữ của E. Smirnova; hệ thống phương pháp trực quan và trò chơi trong phát triển ngôn ngữ của E.T. Tikheeva; các bậc phân loại mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ (từ mức độ 0 đến mức độ 4) của Fedorenko.
- Quan điểm tại Việt Nam và cơ sở pháp lý: Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh về "Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất"; Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BGDĐT (2021) của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chương trình Giáo dục mầm non; cùng các nghiên cứu về phát triển vốn từ của Phan Thiều, Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái, Lưu Thị Lan, Nguyễn Huy Cẩn, Nguyễn Thị Oanh, Trịnh Thị Quyên, Đặng Út Phượng, Đoàn Thị Điểm, và Hoàng Thị Phương.
Tác giả vận dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các nguồn tài liệu, văn bản pháp quy, công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến ngôn ngữ và hoạt động trải nghiệm của trẻ mầm non.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Dự giờ, ghi chép, theo dõi, chụp ảnh và ghi hình quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm của giáo viên để đánh giá thực trạng cách thức tổ chức và mức độ tương tác của trẻ.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi nhằm khảo sát nhận thức của giáo viên về sự cần thiết, mức độ thường xuyên, mục đích, hình thức sử dụng và những khó khăn khi tổ chức hoạt động trải nghiệm phát triển vốn từ.
- Phương pháp đàm thoại: Trực tiếp trao đổi với giáo viên mầm non nhằm tìm hiểu nguyên nhân nhận thức; trò chuyện với trẻ để kiểm tra độ nhạy bén, khả năng hiểu nghĩa và sử dụng vốn từ.
- Phương pháp phân tích sản phẩm sư phạm: Nghiên cứu hệ thống kế hoạch giáo dục, giáo án tổ chức hoạt động của giáo viên dạy lớp mẫu giáo 4–5 tuổi tại hai trường khảo sát.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế và tổ chức thực nghiệm sư phạm có nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp đề xuất.
- Phương pháp xử lý số liệu toán học: Ứng dụng các công thức thống kê toán học để xử lý, so sánh và đánh giá các dữ liệu định lượng thu thập được từ giai đoạn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu khảo sát giáo viên và đánh giá vốn từ của trẻ 4–5 tuổi tại Trường Mầm non Đất Việt và Trường Mầm non Hòa Phong (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), kết hợp hệ thống giáo án giảng dạy và các biên bản thực nghiệm sư phạm đối chứng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về ngôn ngữ, vốn từ và hoạt động trải nghiệm của lứa tuổi mầm non. Tác giả phân tích các khái niệm cơ bản: "từ" (dưới góc độ ngữ nghĩa và hình thức ngữ âm theo Hoàng Phê, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu), "vốn từ" (kho từ vựng của cá nhân gồm vốn từ tích cực và vốn từ thụ động) và "sự phát triển vốn từ" (quá trình tích lũy số lượng, nắm bắt cấu trúc từ loại và lĩnh hội ý nghĩa để sử dụng trong giao tiếp).
Về đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 4–5 tuổi, tác giả trích dẫn các cứ liệu định lượng:
- Về số lượng: Theo Y.U. Pratusevich, trẻ 4 tuổi đạt 1.900 từ, trẻ 5 tuổi đạt 2.500 từ; theo Nguyễn Xuân Khoa, trẻ 4 tuổi đạt 1.900–2.000 từ, trẻ 5 tuổi đạt 2.500–2.600 từ. Tốc độ gia tăng vốn từ chậm dần theo độ tuổi: trẻ cuối 4 tuổi tăng hơn đầu 4 tuổi 200 từ, trong khi trẻ cuối 5 tuổi chỉ tăng hơn đầu 5 tuổi 85 từ.
- Về cơ cấu từ loại: Căn cứ nghiên cứu của Lưu Thị Lan, tỷ lệ các từ loại trong vốn từ của trẻ 4–5 tuổi được xác định cụ thể qua bảng thống kê sau:
| Loại từ |
Tỷ lệ trong vốn từ trẻ 4–5 tuổi (%) |
| Danh từ |
40,0% |
| Động từ |
30,0% |
| Phó từ |
7,5% |
| Tính từ |
7,3% |
| Ngữ thái từ |
4,6% |
| Đại từ |
2,7% |
| Số từ |
1,8% |
| Quan hệ từ |
Tỷ lệ thấp (xấp xỉ 1,x%) |
- Về khả năng hiểu nghĩa: Dựa theo thang 5 mức độ khái quát của Fedorenko (từ mức 0 - tên gọi cụ thể gắn với vật, đến mức 4 - khái niệm trừu tượng), trẻ 4–5 tuổi chủ yếu nắm bắt được ý nghĩa từ ở mức độ 2 (khái quát cùng loại như quả, xe, con) và mức độ 3 (khái quát theo nhóm phương tiện giao thông, đồ dùng học tập).
Bên cạnh đó, chương này phân tích 4 nhóm phương pháp phát triển vốn từ truyền thống (trực quan, dùng lời, trò chơi, thực hành); làm rõ bản chất của giáo dục trải nghiệm; và xác định 5 hình thức hoạt động trải nghiệm chính được khóa luận lựa chọn nghiên cứu gồm: hoạt động học, hoạt động chơi, hoạt động lao động, hoạt động tham quan và hoạt động lễ hội.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng tại Trường Mầm non Đất Việt và Trường Mầm non Hòa Phong (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Các nội dung khảo sát giáo viên được tổng hợp thông qua hệ thống bảng số liệu từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.7, phản ánh nhận thức về sự cần thiết, mức độ thường xuyên, mục đích, việc lựa chọn chủ đề, các hình thức trải nghiệm phổ biến và những rào cản khi triển khai.
Về mức độ phát triển vốn từ của trẻ 4–5 tuổi (thể hiện ở Bảng 2.8, Bảng 2.9 và Biểu đồ 2.1), tác giả ghi nhận những hạn chế thực tế qua các tiêu chí:
- Tiêu chí 1 "Số lượng từ của trẻ": Số lượng từ ngữ trẻ sử dụng còn rất thấp; tỷ lệ trẻ đạt mức độ khá chỉ chiếm 25% (dưới mức 50%). Khảo sát thực tế đưa ra ví dụ minh chứng: khi kiểm tra từ "cái cốc", bé Bảo Ngọc phát âm chính xác, hiểu câu hỏi của cô và có khả năng quan sát tốt, nhưng khi được hỏi "Cái cốc được làm từ nguyên vật liệu gì?" thì bé hoàn toàn không trả lời được, cho thấy vốn từ của trẻ chưa đa dạng và còn thiếu hụt từ chỉ thuộc tính, chất liệu.
- Tiêu chí 3 "Khả năng sử dụng vốn từ": Nhóm trẻ xếp loại yếu có biểu hiện thụ động rõ rệt, ít nói, vốn từ hạn hẹp; một số trẻ không phản hồi câu hỏi của giáo viên dù đã được gợi ý; trẻ thiếu sự chú ý, không hào hứng hay tò mò trước các hình ảnh và câu hỏi khảo sát.
Chương 3: Đề xuất quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm, thiết kế một số hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi và thực nghiệm sư phạm
Trên cơ sở lý luận và thực trạng, Chương 3 đề xuất hệ thống nguyên tắc thiết kế, xây dựng quy trình tổ chức tổng thể và thiết kế chi tiết các hoạt động trải nghiệm thuộc 4 chủ đề. Quy trình tổ chức bao gồm các bước chuẩn bị (tiền trạm địa điểm, phân công nhân lực, xác định nội dung giao tiếp), tiến hành hoạt động và tổng kết, đánh giá.
Một ví dụ điển hình được mô tả chi tiết là hoạt động trải nghiệm thực tế theo Chủ đề Nghề nghiệp:
- Công tác tiền trạm: Phân công nhiệm vụ cụ thể cho nhân lực tham gia và thống nhất nội dung trò chuyện với các chú bộ đội tại đơn vị quân đội.
- Nội dung thực hành tại doanh trại: Trẻ được trực tiếp quan sát và tham gia các hoạt động: tập gấp chăn sau khi ngủ dậy, thực hành nền nếp đội hình đội ngũ, và tham gia hoạt động thao trường. Thông qua các thao tác thực hành, trẻ được tiếp nhận và tích cực hóa hệ thống từ vựng về trang phục, kỷ luật và hoạt động quân đội.
Cuối chương, tác giả trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm. Việc đo lường được thực hiện trên nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) trước thực nghiệm (Bảng 3.1, Biểu đồ 3.1) và sau thực nghiệm (Bảng 3.2, Biểu đồ 3.2), đồng thời so sánh sự tiến bộ nội bộ của nhóm thực nghiệm (Bảng 3.3, Biểu đồ 3.3 tại trang 115).
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu thực nghiệm: Số liệu so sánh trước và sau thực nghiệm sư phạm ghi nhận sự chuyển biến tích cực của nhóm thực nghiệm. Trước can thiệp, mức độ phát triển vốn từ giữa nhóm TN và ĐC không có sự chênh lệch đáng kể, tỷ lệ trẻ đạt mức khá thấp (như phản ánh ở thực trạng chỉ đạt 25% ở tiêu chí số lượng từ). Sau khi áp dụng quy trình và các hoạt động trải nghiệm được thiết kế theo 4 chủ đề, nhóm TN đạt kết quả vượt trội so với nhóm ĐC về cả ba tiêu chí: mở rộng số lượng từ, hiểu đúng ý nghĩa của từ và nâng cao kỹ năng sử dụng từ linh hoạt trong giao tiếp. Vốn từ thụ động của trẻ đã chuyển hóa rõ nét thành vốn từ tích cực thông qua hành động thực tiễn.
- Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn (do tác giả tự nêu):
- Đóng góp lý luận: Khóa luận hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa hoạt động trải nghiệm với việc phát triển vốn từ cho trẻ 4–5 tuổi; khẳng định vai trò của giáo dục trải nghiệm như một phương thức hiệu quả để tích cực hóa vốn từ theo định hướng lấy trẻ làm trung tâm.
- Đóng góp thực tiễn: Đề tài xây dựng được quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm có tính sư phạm chặt chẽ; thiết kế bộ hoạt động trải nghiệm cụ thể thuộc 4 chủ đề quen thuộc (Gia đình, Nước và các hiện tượng tự nhiên, Nghề nghiệp, Tết và mùa xuân); cung cấp tài liệu tham khảo cho giáo viên mầm non và sinh viên chuyên ngành.
- Hệ thống khuyến nghị sư phạm đề xuất:
- Đối với lãnh đạo nhà trường: Cần quan tâm đầu tư kinh phí, chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan thực tế; đồng thời mở các lớp bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn cho giáo viên về phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm.
- Đối với giáo viên mầm non: Cần chủ động, linh hoạt trong khâu thiết kế hoạt động; tránh lạm dụng nội dung có sẵn; kết hợp đa dạng các hình thức (học, chơi, lao động, tham quan, lễ hội); chú trọng tạo tình huống để trẻ được nói, giải thích và sử dụng từ ngữ trong ngữ cảnh thực tế.
- Đối với phụ huynh học sinh: Cần chủ động phối hợp với nhà trường trong các chương trình trải nghiệm; thường xuyên trò chuyện, lắng nghe và tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm các công việc tự phục vụ và sinh hoạt thực tế tại gia đình để củng cố vốn từ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản:
- Địa bàn nghiên cứu thực tiễn mới chỉ giới hạn tại hai trường mầm non thuộc khu vực đô thị (Trường Mầm non Đất Việt và Trường Mầm non Hòa Phong thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), chưa khảo sát so sánh với các cơ sở giáo dục mầm non tại khu vực nông thôn hoặc miền núi.
- Nội dung thiết kế trải nghiệm mới chỉ tập trung triển khai ở 4 chủ đề giáo dục và 5 hình thức hoạt động xác định cho lứa tuổi mẫu giáo nhỡ (4–5 tuổi).
- Hướng mở tiếp theo: Mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau; nghiên cứu ứng dụng quy trình trải nghiệm phát triển vốn từ cho các độ tuổi khác (mẫu giáo bé 3–4 tuổi hoặc mẫu giáo lớn 5–6 tuổi); và tiếp tục tích hợp phương pháp này vào toàn bộ các chủ đề còn lại của Chương trình Giáo dục mầm non.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học - Mầm non tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm, cũng như cán bộ quản lý và giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non.
Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:
- Hệ thống hóa các chỉ số phát triển ngôn ngữ của trẻ 4–5 tuổi (cơ cấu từ loại 40% danh từ, 30% động từ; thang phân loại hiểu nghĩa từ của Fedorenko).
- Bộ tiêu chí và công cụ đánh giá mức độ phát triển vốn từ của trẻ mầm non.
- Quy trình thực tế và kế hoạch bài dạy chi tiết về hoạt động trải nghiệm thực địa (tiêu biểu là quy trình tiền trạm và kịch bản thực hành tại doanh trại bộ đội: gấp chăn màn, tập đội ngũ, hoạt động thao trường).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận căn cứ vào nghiên cứu của những tác giả nào để xác định số lượng vốn từ chuẩn của trẻ 4–5 tuổi?
Tác giả dẫn xuất số liệu từ hai công trình nghiên cứu: theo Y.U. Pratusevich, trẻ 4 tuổi có khoảng 1.900 từ và trẻ 5 tuổi có 2.500 từ; theo Nguyễn Xuân Khoa, trẻ 4 tuổi có từ 1.900 đến 2.000 từ và trẻ 5 tuổi có từ 2.500 đến 2.600 từ. Vốn từ của trẻ cuối 4 tuổi tăng hơn đầu 4 tuổi 200 từ, và cuối 5 tuổi tăng hơn đầu 5 tuổi 85 từ.
2. Cơ cấu các từ loại trong vốn từ của trẻ 4–5 tuổi được trình bày theo tỷ lệ cụ thể nào?
Theo số liệu trích dẫn từ nghiên cứu của Lưu Thị Lan trong khóa luận, cơ cấu từ loại của trẻ 4–5 tuổi gồm: danh từ chiếm 40%, động từ chiếm 30%, phó từ chiếm 7,5%, tính từ chiếm 7,3%, ngữ thái từ chiếm 4,6%, đại từ chiếm 2,7%, số từ chiếm 1,8%, còn quan hệ từ chiếm tỷ lệ thấp nhất (xấp xỉ 1,x%). Mục tiêu đến 5 tuổi là tỷ lệ danh từ - động từ đạt 50% và tính từ đạt 16–17%.
3. Theo thang đo của Fedorenko, trẻ 4–5 tuổi có khả năng nắm bắt nghĩa khái quát của từ ở những mức độ nào?
Trong hệ thống 5 mức độ hiểu nghĩa từ của Fedorenko (từ mức độ 0 đến mức độ 4), trẻ 4–5 tuổi có khả năng tiếp nhận và hiểu được ý nghĩa khái quát ở mức độ 2 (tên gọi khái quát của các sự vật cùng loại như cam, táo là quả; chó, mèo là con) và mức độ 3 (các nhóm khái niệm như phương tiện giao thông, đồ dùng nấu bếp, đồ chơi).
4. Khảo sát thực trạng tại hai trường mầm non ở Việt Trì ghi nhận hạn chế cụ thể nào về vốn từ của trẻ?
Ở tiêu chí số lượng từ, chỉ có 25% trẻ đạt mức độ khá (dưới 50%). Khảo sát thực tế đưa ra trường hợp bé Bảo Ngọc phát âm chính xác từ "cái cốc", hiểu câu hỏi nhưng không trả lời được câu hỏi "Cái cốc được làm từ nguyên vật liệu gì?". Ở tiêu chí khả năng sử dụng từ, nhóm trẻ đạt mức yếu biểu hiện thụ động, ít nói, không trả lời được câu hỏi dù có cô giáo gợi ý và thiếu tập trung vào đối tượng khảo sát.
5. Hoạt động trải nghiệm chủ đề Nghề nghiệp tại doanh trại quân đội được tác giả thiết kế gồm những nội dung thực hành nào?
Hoạt động gồm khâu tiền trạm (phân công nhân lực, thống nhất nội dung trò chuyện với bộ đội) và 3 nội dung thực hành thực tế tại doanh trại: tập gấp chăn sau khi ngủ dậy, thực hành đội hình đội ngũ, và tham gia các hoạt động trên thao trường nhằm giúp trẻ tiếp thu từ ngữ qua hành động trực tiếp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Hồng Thuận đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng của việc phát triển vốn từ cho trẻ 4–5 tuổi thông qua hoạt động trải nghiệm tại Trường Mầm non Đất Việt và Trường Mầm non Hòa Phong (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Bằng việc xây dựng quy trình sư phạm bài bản và thiết kế các hoạt động trải nghiệm theo 4 chủ đề giáo dục trọng tâm, đề tài đã đưa ra giải pháp thực tiễn giúp trẻ chuyển hóa hiệu quả từ vốn từ thụ động sang vốn từ tích cực. Kết quả thực nghiệm sư phạm đã chứng minh tính khả thi của mô hình học tập qua trải nghiệm, đóng góp tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác giảng dạy mầm non hiện nay.