Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học 1. Các nghiên cứu trên thế giới về hoạt động trải nghiệm Trên thế giới, tư tưởng giáo dục về học qua trải nghiệm (experiential education) đã xuất hiện sơ khai từ thời cổ đại. Theo Albert Einstein (1879-1955) cho rằng “nguồn tri thức duy nhất đến từ trải nghiệm” (The only source of knowledge is experienc).
Các nhà giáo dục học hiện đại như Willingham, Conrad và Hedin, Druism và Owens, Karen Warren cũng đã nghiên cứu về các lí thuyết học tập và mô hình học tập trải nghiệm với quan điểm và các góc độ nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những khái niệm, đặc điểm, cách vận dụng HĐTN theo các cách thức khác nhau. Nhưng tựu chung đều đánh giá giáo dục trải nghiệm không chỉ có tầm quan trọng đối với việc phát triển trí nhớ mà giáo dục trải nghiệm còn được chứng minh là giúp cho con người phát triển toàn diện: phát triển kỹ năng quan sát, kỹ năng nhận thức và tư duy, kỹ năng ứng xử, kỹ năng cảm nhận, biểu đạt tình cảm. Học thông qua trải nghiệm cũng được đánh giá là giúp phát triển các năng lực tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo. Ưu thế của giáo dục trải nghiệm trong phát triển tư duy đã được nhiều nhà khoa học chứng minh.
Theo William Glasser, chúng ta chỉ học được 10% từ việc đọc, 20% từ việc nghe và 80% kiến thức chúng ta tiếp thu được là thông qua việc trải nghiệm thực tế.vn/Kho-tri-thuc), [31]. Trên thế giới, các quan điểm về phương pháp giáo dục coi trọng thực hành, vận dụng, dạy học phải đảm bảo mối liên hệ với đời sống, giáo dục thông qua trò chơi, hoạt động ngoài lớp, ngoài thiên nhiên, giáo dục kĩ thuật tổng hợp và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất của các nhà tâm lý học, khoa học giáo dục vẫn tiếp tục được phát triển mạnh mẽ. Một số mô hình học tập trải nghiệm tiêu biểu có thể nhắc đến như sau: (1) Mô hình học tập qua kinh nghiệm của John Dewey (1859 -1952) Từ những năm gần giữa thế kỉ XX, John Dewey (1859-1952), nhà giáo dục nhà triết học, tâm lý học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ đã đưa ra mô hình học tập qua (LUAN.minh TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.minh 7 kinh nghiệm. Ông đã đưa ra quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”.
Cũng theo John Dewey, giáo dục tốt nhất phải là sự học tập trong cuộc sống. Trong quá trình sống, con người không ngừng tích lũy kinh nghiệm và cải biến những kinh nghiệm nên trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã hội. Dạy học phải giao việc cho học sinh làm vì trong quá trình làm việc, trẻ sẽ không ngừng tiếp thu nhiều kinh nghiệm và cải biến, rút kinh nghiệm từ thực tế trong chính cuộc sống xã hội. Những tri thức đạt được của trẻ thông qua làm mới là tri thức thật.
John Dewey coi giáo dục tiên bộ như là thể hiện mối quan hệ mật thiết và tất yếu của giáo dục với các quá trình trải nghiệm thực tế; quá trình sống và quá trình giáo dục không phải là hai quá trình mà là một. Ông đã chỉ ra rằng, đối với học sinh khả năng học hỏi từ kinh nghiệm là rất có ý nghĩa, khả năng lưu giữ kinh nghiệm sẽ giúp giải quyết khó khăn trong các tình huống mà trẻ sẽ gặp trong cuộc sống sau này; nghĩa là khả năng điều chỉnh hành vi trên cơ sở các kinh nghiệm trước đó và hình thành kinh nghiệm mới của trẻ là rất quan trọng. Như vậy, quá trình học của trẻ phải là quá trình hình thành cái nhìn mới, hứng thú và kinh nghiệm mới. Vì vậy, nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi trường học tập, trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn, để người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua kinh nghiệm và tư duy, gắn liền với hoạt động trải nghiệm của chính bản thân người học.
Học tập trải nghiệm là học thông qua thực hành, người học là người tham gia tích cực trong quá trình giáo dục. (2) Mô hình học tập phát triển nhận thức của Jean Piaget (Piaget’s Model of Learning and Cognitive Development) Theo nhà Tâm lí học Jean Piaget (1896 - 1980), cho rằng, đào tạo không có nghĩa là cố gắng để khiến cho một đứa trẻ bắt chước theo như một người lớn cụ thể nào đó, giáo dục cần phải tạo nên “những nhà phát minh, những nhà cải cách chứ không phải những người chỉ biết tuân thủ”. Bản chất trong việc học tập của một đứa trẻ đó là quá trình đứa trẻ tương tác với môi trường. Cách học tốt nhất của trẻ em là “học bằng cách làm” (learning by doing).
Người học cần phải được chủ động chứ không thụ động, vì những kỹ năng giải quyết vấn đề không thể được dạy mà phải được khám phá ra. Mô hình học tập trải nghiệm cổ (LUAN.minh TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.minh 8 điển khác là mô hình học tập và phát triển nhận thức của Jean Piaget thông qua 4 giai đoạn khác nhau. Cụ thể: Hình 1.1: Mô hình học tập và phát triển nhận thức của Jean Piaget Theo mô hình, đây là 4 giai đoạn thể hiện sự phân kì trong phát triển trí tuệ ở trẻ em với những đặc trưng như sau: Giai đoạn 1: Giai đoạn cảm giác - vận động (từ 0-3 tuổi): trẻ nhận biết thế giới thông qua sự phối hợp cảm giác và vận động; Giai đoạn 2: Giai đoạn tiền thao tác cụ thể (từ 3-7, 8 tuổi): trẻ có thể nhận biết thế giới qua các biểu tượng, đặc biệt là biểu tượng bằng ngôn ngữ; Giai đoạn 3: Giai đoạn thao tác cụ thể (từ 7, 8 tuổi - 11 tuổi): trẻ có thể hiểu được thế giới theo c ách lí luận hơn là tri giác đơn giản thông qua các ý niệm về đối tượng bên ngoài; Giai đoạn 4: Giai đoạn thao tác hình thức hay tư duy logic (từ 11-14, 15 tuổi): trẻ có khả năng khái quát hoá những ý tưởng và cấu trúc các điều trừu tượng và có thể đưa ra kết luận từ những giả thuyết. Trí tuệ trẻ trong giai đoạn này đã đạt mức phát triển hoàn chỉnh.
Mô hình này đã phản ánh rất r vai trò của trải nghiệm đối với sự phát triển nhận thức ở trẻ em: các thành tựu trí tuệ của trẻ em ở giai đoạn này là sự kế thừa kinh nghiệm giai đoạn trước; là sự kết hợp thống nhất các cấu trúc đã có từ giai đoạn trước; là kết quả của một quá trình trải nghiệm.minh TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.minh 9 Theo Piaget, quá trình học tập của trẻ bậc Tiểu học (khoảng từ 7-11 tuổi) chủ yếu là các hoạt động thông qua sự kết hợp của sự quan sát, vận động, thao tác và hình ảnh, khái niệm, nhận thức đã có sẵn trong trí óc. Học tập trong giai đoạn này là được điều chỉnh bởi trật tự của lớp học và các mối quan hệ, giao tiếp. Bước đầu kiềm chế tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỉ luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập. Ví dụ, trẻ bậc tiểu học bắt đầu học các phép toán cộng, trừ thông qua việc sử dụng que tính, phép nhân qua bảng cử chương Môi trường học tập tác động khiến trẻ chuyền từ tính hiếu kì, tò mò sang ham hiểu biết, hứng thú khám phá.
Piaget cho rằng, trẻ học tập hiệu quả nhất khi các em được làm việc một cách thực sự và tự kiến tạo tri thức cho riêng mình thay vì lắng nghe sự diễn giải của người lớn. Chính việc trải nghiệm đã làm nên sự phát triển của trẻ. Khi tương tác với môi trường xung quanh, sẽ giúp trẻ thay đổi kiến thức, sự hiểu biết hiện có của mỗi trẻ. Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản về sự phát triển của thực vật khi đọc cho các em nghe một cuốn sách.
Tuy nhiên, sẽ tốt hơn nhiều khi kết hợp lời diễn giải của giáo viên với việc cho trẻ được trải nghiệm bằng các hoạt động gieo trồng, chăm sóc, tưới cây trong vườn trường. Thông qua hoạt động thực tế giúp trẻ chiêm nghiệm, thu nhặt được nhiều kiến thức phong phú. Ngoài ra, Piaget cũng đánh giá rất cao vai trò của trò chơi trong giáo dục cho trẻ. Theo ông, các loại trò chơi biểu trưng như đóng vai là một con đường học tập chính yếu.
Ví dụ: Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh học tập thực hành. Tổ chức cho học trẻ tham gia các trò chơi trải nghiệm như sử dụng vòi nước tưới cây để “cứu hỏa”, các em sẽ gắn ý nghĩa cho các đối tượng và hoạt động diễn ra quanh mình. Thông qua việc trải nghiệm, dần dần trẻ sẽ hiểu được các quy luật vận hành của thế giới và bắt đầu quá trình thử và sai. Cuối cùng, trẻ sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm và vận dụng chúng vào quá trình khám phá môi trường và nâng cao nhận thức cho chính mình.
Piaget cũng cho rằng, kiến thức không tự mình sinh ra mà nó là sản phẩm từ quá trình con người tương tác với thế giới tự nhiên và xã hội. Tóm lại, từ mô hình học tập phát triển nhận thức của Jean Piaget, vận dụng trong tổ chức các hoạt động giáo dục để đạt hiệu quả, người thầy cần tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực chủ động. Đồng thời nên sử dụng những phương pháp tích cực, đòi hỏi học sinh chủ động khám phá lại hay kiến tạo lại “những chân lý”.minh TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.minh 10 chức các hoạt động để trẻ có thể học lẫn nhau, giáo viên đánh giá trình độ phát triển của trẻ để đặt ra các nhiệm vụ thích hợp. (3) Mô hình học tập trải nghiệm của Lev Vygotsky Nhà tâm lý học Liên Xô, người sáng lập một lý thuyết về phát triển văn hóa và sinh học - xã hội của con người.
Công trình của Lev Vygotsky (1934) đã trở thành nền tảng cho nhiều nghiên cứu và lý thuyết về sự phát triển nhận thức trong suốt nhiều thập kỷ qua, đặc biệt được biết đến như thuyết phát triển Xã hội (Social Development Theory). Vygotsky nhấn mạnh vai trò nền tảng của sự tương tác xã hội trong sự phát triển nhận thức của trẻ. Ông cho rằng, trong môi trường giáo dục cần coi trọng sự khám phá của bản thân học sinh và cũng rất cần có sự trợ giúp của giáo viên và sự hợp tác của các bạn cùng lứa tuổi với trẻ là rất quan trọng.