Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH 1. Năng lực giải quyết vấn đề 1. Khái niệm năng lực Chương trình (CT) giáo dục phổ thông mới sẽ chuyển từ CT định hướng nội dung sang CT định hướng năng lực, vì vậy trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ khái niệm NL như sau “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017). Tác giả Hoàng Hòa Bình cũng đưa ra nhiều khái niệm năng lực của các tổ chức giáo dục và tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam như: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm NL là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể”.
Chương trình giáo dục Trung học bang Quécbec, Canada năm 2004 xem NL “là khả năng hành động hiệu quả dựa trên nhiều nguồn lực”. Denyse Tremblay cho rằng, NL là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với tình huống trong cuộc sống”. Weinert, NL là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán và đi đến giải pháp”. Cách hiểu của Từ điển Bách Khoa Việt Nam: “NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó”.
Luan van 6 Cách hiểu của Từ Điển Tiếng Việt: NL là “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Tóm lại, có thể hiểu năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể (Hoàng Hòa Bình, 2015). Theo Scallon, năng lực có một số đặc tính cơ bản sau đây: - Năng lực là một khả năng, một tiềm năng (không thể quan sát được) hoặc một đặc tính thường trực của cá nhân. NL được phân biệt với khái niệm kết quả, biểu hiện cụ thể của năng lực.
- Năng lực là khả năng của một người cần huy động, thậm chí cần sử dụng có ý thức những nguồn riêng của mình hay những nguồn đến từ bên ngoài. - Việc huy động các nguồn này được thực hiện có ý thức, có nghĩa là được bảo đảm, không thăm dò, không do dự. - Cá nhân huy động một tập hợp các nguồn tích hợp mà không phải là một phép cộng đơn giản hay một sự xắp xếp các yếu tố liền nhau. - Các nguồn này được hình thành từ các kiến thức, các kĩ năng, các thái độ.
- Năng lực là một khả năng được bộc lộ khi người ta được đặt trong một gia đình tình huống có vấn đề (nhiều nhiệm vụ giống nhau). - Năng lực không loại trừ kiến thức và kĩ năng: trước khi huy động kiến thức và kĩ năng thì phải làm chủ được kiến thức và kĩ năng ấy, sẽ không có năng lực nếu không làm chủ được kiến thức và kĩ năng, tương tự sẽ không có kĩ năng nếu không có kiến thức. - Cấp độ năng lực tùy thuộc vào khả năng sử dụng kĩ năng trong tình huống. Một người được coi là có năng lực trong một lĩnh vực khi người đó không chỉ có kiến thức, kĩ năng, thái độ.mà đặc biệt ở tất cả mọi thời điểm có thể huy động một cách cụ thể và tích hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ cần thiết vào việc giải quyết một tình huống vấn đề hay một gia đình tình huống-vấn đề đã cho trong một lĩnh vực nào đó (Nguyễn Quang Thuấn, 2016).
Luan van 7 Có thể thấy dù cách phát biểu có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định: nói đến năng lực là nói đến khả năng thực hiện, là phải biết “làm” chứ không chỉ “biết” và “hiểu”. Hành động “làm” ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng chứ không phải là làm một cách máy móc, mù quáng (Đỗ Hương Trà et al. Những quan niệm về năng lực như trên giúp GV định hướng được cách dạy học để phát triển năng lực cho học sinh, ngoài việc trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng, thái độ thì phải tổ chức các hoạt động để qua các hoạt động, bằng hoạt động, học sinh hình thành, phát triển NL, bộc lộ được tiềm năng bản thân, hình thành các phẩm chất tốt đẹp để trở thành con người tự tin, hạnh phúc và thành công. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề Có rất nhiều năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh, trong đó năng lực giải quyết vấn đề là một trong những năng lực cốt lõi.
Có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm NL GQVĐ, trong khuôn khổ đề tài, tác giả đưa ra một số khái niệm mà bản thân thấy đồng tình và NL GQVĐ được đề cập trong nghiên cứu này cũng dựa trên quan điểm đó. Theo tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì “NL GQVĐ là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, cảm xúc để giải quyết vấn đề trong những tình huống, mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường. Qua đó, thể hiện được khả năng tư duy, khả năng hợp tác nhóm trong lựa chọn, quyết định và thực hiện giải pháp cho vấn đề. Theo đánh giá PISA (2012) của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thì NL GQVĐ được bộc lộ trong quá trình cá nhân đó giải quyết các tình huống có vấn đề.
Để giải quyết được các tình huống đó một cách có hiệu quả thì cá nhân phải có thái độ tích cực, nguồn tri thức và kĩ năng phù hợp. Vì vậy, NL GQVĐ là khả năng của một cá nhân huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của mình để giải quyết các tình huống có vấn đề có hiệu quả, tích cực và sáng tạo. Luan van 8 Vậy, NL GQVĐ của HS được hiểu là sự huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, xúc cảm, động cơ của HS đó để giải quyết các tình huống thực tiễn trong bối cảnh cụ thể mà các giải pháp không có sẵn ngay lập tức (Đỗ Hương Trà et al. Qua các quan điểm trên ta thấy để phát triển NL GQVĐ thì vấn đề then chốt là tạo ra được các tình huống có vấn đề, cá nhân phải biến vấn đề đó thành vấn đề của mình và huy động tri thức, kĩ năng, thái độ, động cơ, cảm xúc.để đưa ra giải pháp và thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.
Cấu trúc và các biểu hiện hành vi của NL GQVĐ NL GQVĐ của HS được thể hiện thông qua những hoạt động trong quá trình GQVĐ. Phân tích cấu trúc của NL GQVĐ qua tiến trình GQVĐ có thể thấy có 4 thành tố sau: - Năng lực tìm hiểu vấn đề: Nhận biết, phát hiện vấn đề, xác định được những thông tin đã cho, thông tin cần tìm. - Năng lực đề xuất giải pháp GQVĐ: Phân tích, sắp xếp, kết nối các thông tin với kiến thức đã biết và đưa ra các giải pháp, lựa chọn giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề. - Năng lực thực hiện giải pháp GQVĐ: Thực hiện giải pháp, điều chỉnh giải pháp cho phù hợp với thực tiễn khi có sự thay đổi.
- Năng lực đánh giá và phản ánh giải pháp, xây dựng vấn đề mới: Đánh giá giải pháp đã thực hiện và vấn đề đặt ra; phản ánh giá trị của giải pháp, xác nhận những kiến thức và kinh nghiệm. Như vậy, NL GQVĐ gồm 4 thành tố, mỗi thành tố bao gồm một số hành vi khi HS làm việc độc lập hoặc làm việc nhóm trong quá trình GQVĐ. Cấu trúc của NL GQVĐ NL Chỉ số Mức độ biểu hiện thành tố hành vi Tìm hiểu Mức 1: Quan sát, mô tả được các quá trình, hiện tượng tình huống trong tình huống để làm rõ vấn đề cần giải quyết Luan van 9 vấn đề Mức 2: Giải thích thông tin đã cho, mục tiêu cuối cùng cần thực hiện để làm rõ vấn đề cần giải quyết Mức 3: Phân tích, giải thích thông tin đã cho, mục tiêu 1.Tìm cần thực hiện và phát hiện vấn đề cần giải quyết hiểu vấn Phát hiện Mức 1: Từ các thông tin đúng và đủ về quá trình, hiện đề vấn đề cần tượng, trình bày được một số câu hỏi riêng lẻ nghiên cứu Mức 2: Từ các thông tin đúng và đủ về quá trình, hiện tượng, trình bày được các câu hỏi liên quan đến vấn đề cần giải quyết Mức 3: Từ các thông tin đúng và đủ về quá trình, hiện tượng, trình bày được các câu hỏi liên quan đến vấn đề và xác định được vấn đề cần giải quyết Phát biểu Mức 1: Sử dụng ít nhất được một phương thức (văn bản, vấn đề hình vẽ, biểu bảng, lời nói,…) để diễn đạt lại vấn đề Mức 2: Sử dụng được ít nhất hai phương thức để diễn đạt lại vấn đề Mức 3: Diễn đạt vấn đề ít nhất bằng hai phương thức và phân tách thành các vấn đề bộ phận 2.