CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Một số tài liệu và bài viết về hoạt động nhóm Hoạt động nhóm là lĩnh vực đã được nghiên cứu từ lâu, có rất nhiều bài viết về lĩnh vực này, trong số đó có thể kể đến: “Vận dụng các cấu trúc dạy học hợp tác vào giảng dạy hóa học phổ thông” của tác giả Đào Thị Hoàng Hoa (Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, số 39/2012) “Một số vấn đề cơ sở lý luận về kỹ năng học theo nhóm của học sinh” của tác giả Ngô Thị Thu Dung (Tạp chí giáo dục, số 4/2002). “Một số vấn đề cơ sở lý luận học hợp tác nhóm” của tác giả Lê Văn Tạc (Tạp chí giáo dục, số 9/2002).
Bài viết “Dạy học hợp tác – một xu hướng mới của giáo dục thế kỷ XXI”, của PGS. Trịnh Văn Biều đăng trên tạp chí khoa học, số 25, năm 2011 – trường Đại học Sư phạm Tp. “Dạy học hợp tác theo nhóm trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông” của tác giả Đặng Thị Thanh Bình đăng trên Tạp chí Khoa học, số 25, năm 2011 – trườngĐại học Sư phạm Tp. “Các phương pháp dạy học tích cực và hiệu quả” của PGS.TS Trịnh Văn Biều là giáo trình giảng dạy môn Các phương pháp dạy học hiệu quả ở trường ĐHSP Tp.
Nhận xét: Các bài viết trên giúp ta có cái nhìn tổng quát về dạy học hợp tác, đồng thời cũng cung cấp thông tin, kinh nghiệm khi sử dụng hình thức hoạt động nhóm trong dạy học, giúp cho những ai quan tâm đến hình thức tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm dễ định hướng và thành công khi áp dụng vào giảng dạy thực tế. Một số luận văn, khóa luận viết về tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Ở nước ta, trong một số năm gần đậy, các luận văn, khóa luận viết về dạy học hợp tác tương đối nhiều. Một số hình công trình nghiên cứu có liên quan đến dạy học hợp tác bằng hình thức hoạt động nhóm mà tôi đã tham khảo: Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn hóa học ở trường trung học phổ thông – phần Hóa 10 chương trình nâng cao” của tác giả Hỉ A Mỗi – học viên khóa 17 (2009), trường ĐHSP TP.HCM [14] Nhận xét: Luận văn có nhiều đầu tư, đề tài đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và mục tiêu đề ra, tác giả đã làm nổi bậc những ưu điểm của PP hoạt động nhóm trong dạy học hóa học, chứng minh được hình thức dạy học theo nhóm là khả thi và mang lại hiệu quả giáo dục cao, xây dựng được 5 hình thức dạy học theo nhóm thích hợp với dạy học Hóa học ở trường THPT. Thiết kế 10 bài lên lớp có vận dụng 5 hình thức dạy học vào trong giảng dạy.
Đề tài góp phần thay đổi cách nhìn trong việc đổi mới PPDH. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Sử dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học Hóa học lớp 11 – chương trình nâng cao ở THPT” của tác giả Trần Thị Thanh Huyền – học viên khóa 18 (2010), trường ĐHSP TP. Nhận xét: Đề tài đã cung cấp thông tin về DHHT trên thế giới và có sự phân tích nhận định riêng của tác giả. Thiết kế một số giáo án có vận dụng DHHT, đã khắc phục được tình trạng “ăn theo” của các học sinh lười nhác trong hoạt động nhóm.
Đề tài cũng đưa ra một vài đề xuất phương án đánh giá. Tuy nhiên cách đánh giá hoạt động của cá nhân và nhóm ở một số bài lên lớp còn chưa phù hợp thực tế. Khóa luận tốt nghiệp “Thử nghiệm phương pháp hợp tác nhóm nhỏ và phương pháp đóng vai trong dạy học môn hóa lớp 10 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của HS” của sinh viên Nguyễn Thị Khánh Chi (2007), trường ĐHSP TP. Khóa luận tốt nghiệp “Hoạt động nhóm trong dạy học hóa học ở trường THPT” của sinh viên Phan Thị Thùy Trang (2008), trường ĐHSP TP.
7 Nhận xét:các khóa luận trên bước đầu tìm hiều cơ sở lí luận về phương pháp dạy học theo nhóm, đúc kết được một số kinh nghiệm khi tổ chức nhóm. Tuy nhiên phần lí luận còn chưa đầy đủ, chi tiết; phần thực nghiệm còn chưa đánh giá được tính hiệu quả về sự phát triển các kỹ năng hoạt động của HS; chưa làm nổi bậc các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm. Tóm lại, các tài liệu nêu ra trên đều có giá trị cả về lý luận lẫn thực tiễn từ đó rút ra được nhiều bài học bổ ích, những gợi ý quan trọng. Em đã tiếp thu có chọn lọc, kế thừa và phát triển một số ý tưởng của các tác giả đi trước để làm nền tảng cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) 1. Những nét đặc trưng của đổi mới PPDH [5, tr.114], [18] Với mục tiêu đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, đòi hỏi giáo dục nước nhà phải đào tạo nên những con người lao động có tính sáng tạo, thích ứng với sự phát triển nhanh và đa dạng của xã hội. Các PPDH truyền thống tuy đã khẳng định được những thành công nhất định, nhưng vẫn t còn nhiều hạn chế. Phổ biến vẫn là thuyết trình, thiên về truyền thụ kiến thức một chiều, áp đặt, không đáp ứng được các yêu cầu đã nêu.
Do đó chúng ta phải đổi mới PPDH theo hướng dạy cách học, cách suy nghĩ, dạy phương pháp tư duy. Cụ thể là: - Phát huy tính chủđộng, sáng tạo trong quá trình nhận thức, vận dụng. - Tạo điều kiện để học sinh tự phát hiện, tìm hiểu, đặt và giải quyết vấn đề. - Tăng cường trao đổi, thảo luận.
- Tạo điều kiện hợp tác trong nhóm. - Tạo điều kiện cho học sinh tựđánh giá, đánh giá lẫn nhau. - Tận dụng tri thức thực tế của học sinh để xây dựng kiến thức mới. 8 Như vậy đổi mới PPDH nói chung và PPDH hóa học nói riêng là một yêu cầu khách quan và là một nhu cầu tất yếu của xã hội học tập.
Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay [1, tr.15] Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH theo các hướng khác nhau. Sau đây là một số xu hướng cơ bản: - Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá.
Tạo điều kiện cho HS học tập tích cực, chủđộng, sáng tạo. - Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời. Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS phương pháp học tập, phương pháp tự học. - Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế.
Chuyển từ lối học nặng về tiêu hoá kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức. - Cá thể hoá việc dạy học. Việc dạy học thích ứng với năng lực và điều kiện của từng người học ở mức độ từ thấp đến cao. Biện pháp: chia nhỏ lớp, dạy học theo nhóm nhỏ,.
- Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học. - Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớđơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức; sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với từng môn học. - Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học ở mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học). Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học 1.
Khái niệm nhóm và hoạt động nhóm [1], [2] 9 Nhóm là tập hợp những con người có hành vi tương tác lẫn nhau, để thực hiện các mục tiêu (chung và riêng) và thoả mãn các nhu cầu cá nhân. Hoạt động nhóm trong dạy học (hay còn gọi là dạy học hợp tác) là một hình thức tổ chức dạy học mà trong đó HS không làm việc cá nhân riêng lẻ mà làm việc tập thể dưới sự hướng dẫn của giáo việc. Trong hoạt động nhóm có nhiều mối quan hệ giao tiếp: giữa các HS với nhau, giữa GV với từng HS.103] Hoạt động nhóm cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng phương pháp nhận thức mới. Trong hoạt động nhóm, quá trình học tập trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau về kiến thức, kĩ năng và phương pháp học tập, kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác.
Các giai đoạn phát triển của nhóm [9] Có 4 giai đoạn chính trong sự hình thành và phát triển của nhóm hợp tác: hình thành, sóng gió, chuẩn hóa và thể hiện. Comment [U6]: Cần có dẫn nguồn: Theo ….] • Hình thành: Các cá nhân rời rạc tham gia vào và hình thành nhóm làm việc. Tâm lý thường thấy là háo hức, kỳ vọng, nghi ngờ, lo âu. • Sóng gió: Công việc bắt đầu được triển khai một cách chậm chạp, đầy trắc trở.
Các cá nhân bộc lộ tính cách, thói quen, sở thích và bắt đầu va chạm mạnh với nhau. Mâu thuẫn nảy sinh và thậm chí dẫn tới xung đột, đe dọa sự đổ vỡ của nhóm. Mức độ không hài lòng tăng dần, cảm giác bất mãn tăng lên. • Chuẩn hóa: Các mâu thuẫn và vấn đề đang tồn tại được dàn xếp và giải quyết.
Các quan hệ đi vào ổn định. Các tiêu chuẩn được hình thành và hoàn thiện. Các cá nhân chấp nhận thực tại của nhau. Quan hệ bạn bè, đồng đội thực sự hình thành trong giai đoạn này.
Sự chân thành, tin tưởng trở nên rõ nét hơn. • Thể hiện: Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của nhóm hợp tác. Cảm giác tin tưởng, hòa nhập, gắn kết mạnh mẽ. Sự háo hức thể hiện rõ.
Mức độ cam kết về công việc cao. Cảm giác trưởng thành thực thụở tất cả các thành viên của nhóm. 10 Trong giai đoạn sau đó, nếu việc duy trì tốt, nhóm tiếp tục thể hiện tốt, nếu không, sẽ đi vào giai đoạn tan rã. Việc kết thúc hoạt động cũng đưa nhóm hợp tác bước vào giai đoạn này.
Những nét đặc thù của hoạt động nhóm [16, tr.