Chương 1: Cơ sở khoa học về dạy học tích hợp liên môn; Chương 2: Thiết kế bài học tích hợp liên môn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp Một; Chương 3: Kết quả tổ chức dạy học tích hợp liên môn một số chủ đề cho HS lớp Một. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Tích hợp liên môn và dạy học tích hợp liên môn 1. Khái niệm tích hợp liên môn và dạy học tích hợp liên môn Tích hợp (integration) là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực.
“Integration” có gốc từ tiếng Latin (integer) có nghĩa là “whole” (toàn bộ, toàn thể). Đó là sự phối hợp, xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở của những bộ phận riêng lẻ (Oxford University). Theo Từ điển Tiếng Việt, “tích hợp” là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ (Hoàng Phê, 2010). Theo Từ điển Giáo dục học, “tích hợp” là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong một kế hoạch giảng dạy (Bùi Hiền, 2001).
Trong lĩnh vực giáo dục, “tích hợp” dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối. trong dạy học các bộ môn, “tích hợp” được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học” mới (Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, 2012). Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại.
Mặc dù vấn đề dạy học tích hợp các khoa học đã được UNESCO đặt ra tại hội nghị Varna (Bungary) từ năm 1968 nhưng đến nay – đã hơn 40 năm trôi qua – đây vẫn là vấn đề mà các nước vẫn tiếp tục nghiên cứu và phát triển. Có thể thấy, tuy có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng khi đề cập đến khái niệm tích hợp liên môn, các tác giả đều thống nhất những ý sau đây: là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất. Từ sự phân tích trên, trong luận văn này, chúng tôi hiểu dạy học tích hợp liên môn là xu hướng liên kết những nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học trong một chủ đề nhằm hướng đến việc phát triển toàn diện các kiến thức 9 và kĩ năng của học sinh. "Tích hợp" là nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt động dạy học còn "liên môn" là đề cập tới nội dung dạy học.
Đã dạy học "tích hợp" thì chắc chắn phải dạy kiến thức "liên môn" và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng tới mục tiêu tích hợp. Chủ đề tích hợp liên môn là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học. Các chủ đề tích hợp liên môn có ưu điểm tương đồng với vấn đề trong thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường cơ hội vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, nhờ đó năng lực và phẩm chất của học sinh được hình thành và phát triển.
Ngoài ra, dạy học các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn. Mức độ tích hợp liên môn Cách phân chia các mức độ trong dạy học tích hợp phụ thuộc vào quan điểm về dạy học tích hợp. Điển hình, việc thay đổi quan niệm về dạy học tích hợp đã dẫn đến thay đổi cách phân chia các mức độ trong dạy học tích hợp của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Năm 2011, dạy học tích hợp được chia theo 3 mức độ tích hợp là: (Bộ Giáo dục và Đào tạo , Tích hợp nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào các môn học và hoạt động giáo dục cấp tiểu học, 2011) - Tích hợp toàn phần: mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung giáo dục cần tích hợp.
- Tích hợp bộ phận: chỉ có một phần bài học có nội dung phù hợp với phần cần tích hợp, được thể hiện bằng một mục riêng, một câu, đoạn trong bài học. - Tích hợp liên hệ: các kiến thức giáo dục cần tích hợp không được nêu rõ trong sách giáo khoa nhưng có điều kiện thì liên hệ một cách logic. Với cách hiểu tích hợp là sự liên hệ, lồng ghép khi thấy phù hợp trong từng đơn vị bài học nên việc phân chia các mức độ tích hợp trong dạy học như trên dù có 10 3 mức độ những cũng chỉ dừng lại ở việc lồng ghép, liên hệ trong bài học, là mức độ thấp của dạy học tích hợp theo cách phân chia của nhiều tác giả khác. Năm 2015, dạy học tích hợp được chia thành 4 mức độ như sau: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn về dạy học tích hợp ở trường phổ thông , 2015).
- Tích hợp trong nội bộ môn học: tìm kiếm sự kết nối giữa các nội dung, chủ đề; - Tích hợp đa môn: một chủ đề có thể xem xét trong nhiều môn học khác nhau; - Tích hợp liên môn: phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống; - Tích hợp xuyên môn: tìm cách phát triển ở HS những kĩ năng xuyên môn có tính chất chung và áp dụng được ở mọi nơi. Như vậy, cách phân chia các mức độ dạy học tích hợp năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy sự phát triển trong quan điểm về dạy học tích hợp, phù hợp với quan điểm chung của nhiều nhà giáo dục. Kết hợp cả hai cách phân chia trên, (Nguyễn Thị Kim Dung, 2015) đã phân chia các mức độ tích hợp theo thang tăng dần như sơ đồ dưới đây: xuyên môn liên môn đa môn trong một môn kết hợp truyền thống Sơ đồ 1. Sơ đồ các mức độ tích hợp Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chú trọng đến quan điểm dạy học tích hợp liên môn theo chương trình Việt Nam.
Trong dạy học tích hợp liên môn, các môn học được liên kết với nhau và giữa chúng có những chủ đề, vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn chung. Chương trình cũng xoay quanh các chủ đề/ vấn đề chung, nhưng các khái niệm hoặc 11 các kĩ năng liên môn được nhấn mạnh giữa các môn chứ không phải trong từng môn riêng biệt. Chương trình liên môn tạo ra những kết nối rõ rệt giữa các môn học hay bắt đầu phá vỡ ranh giới giữa các môn học. Đây không còn là một phần bổ sung đơn giản của các phần nhưng sự thừa nhận rằng mỗi môn học có thể ảnh hưởng đến kết quả đầu ra của môn còn lại.
Hay nói cách khác, liên môn kết hợp hai hay nhiều môn học để khám phá một chủ đề nào đó trong một hay hai lĩnh vực. Ví dụ: Ở Việt Nam, các môn học Tìm hiểu tự nhiên và Tìm hiểu xã hội được thể hiện thành môn học Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học. Chương trình và sách giáo khoa các môn Khoa học của Pháp gồm Lí - Hóa; môn Sinh - Địa chất (hoặc Khoa học về Trái đất). Xét về mức độ tích hợp còn có cách phân loại như sau: Lồng ghép/ liên hệ: Đó là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của một môn học.
Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ. Tuy nhiên, giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp. Sơ đồ xương cá Vận dụng kiến thức liên môn: Hoạt động học diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người học cần vận dụng kiến thức của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra. Nội dung các môn học vẫn được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ thống; mặt khác, vẫn thực hiện được sự 12 liên kết giữa các môn khác nhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn trong các chủ đề hội tụ.
(Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, 2012) Môn…. Sơ đồ mạng nhện Có 2 cách thực hiện mức độ tích hợp này: a) Cách 1: Các môn học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối học kì, cuối năm hoặc cuối cấp học có một phần, một chương về những vấn đề chung và các thành tựu ứng dụng thực tiễn nhằm giúp học sinh xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã được lĩnh hội. b) Cách 2: Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học.
Nói cách khác, sẽ bố trí xen một số nội dung tích hợp liên môn vào thời điểm thích hợp nhằm làm cho học sinh quen dần với việc sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi với nhau. Hòa trộn Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp. Ở mức độ này, tiến trình dạy học là tiến trình “không môn học”, nghĩa là nội dung kiến thức trong bài học không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau. Do đó, các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ.
Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học. Ở mức độ hòa trộn, giáo viên phối hợp quá trình học tập những môn khác nhau bằng các tình huống thích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm môn, tạo thành các chủ đề thích hợp. Trong quá trình thiết kế sẽ có những chủ đề, trong đó các năng lực cần hình thành được thể hiện xuyên suốt qua toàn nội dung của chủ đề mà không phải chỉ một nội dung nào đó của chủ đề. Các năng lực này chính là các năng lực được hình 13 thành xuyên môn học.