phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luân văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học theo lý thuyết kiến tạo đáp ứng mục tiêu dạy học môn vật lý, nhằm phát huy tính tích cực và và nâng cao kết quả học tập cho học sinh THPT miền núi. Đề xuất tiến trình dạy học theo lý thuyết kiến tạo một số kiến thức chƣơng “Cân bằng và chuyển động của vật rắn” vật lý 10 cơ bản đáp ứng mục tiêu dạy học môn Vật lý, nhằm phát huy tính tích cực và và nâng cao kết quả học tập cho học sinh THPT miền núi. Thực nghiệm sƣ phạm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO LÝ THYẾT KIẾN TẠO ĐÁP ỨNG MỤC TIÊU DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ, NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH THPT MIỀN NÚI 1. Mục tiêu dạy học môn vật lí ở trƣờng THPT 1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông: Theo luật giáo dục năm 2005 “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[11]. Mục tiêu DHVL ở trƣờng phổ thông: Mục tiêu tổng quát của DHVL ở trƣờng phổ thông là góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông.
Các mục tiêu cụ thể cuả DHVL ở trƣờng phổ thông theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chƣơng trình giáo dục phổ thông quy định nhƣ sau: * Về kiến thức Đạt đƣợc một hệ thống kiến thức VL phổ thông, cơ bản và phù hợp với những quan điểm hiện đại, bao gồm : a) Các khái niệm về các sự vật, hiện tƣợng và quá trình VL thƣờng gặp trong đời sống và sản xuất. b) Các đại lƣợng, các định luật và nguyên lí VL cơ bản. c) Những nội dung chính của một số thuyết VL quan trọng nhất. d) Những ứng dụng phổ biến của VL trong đời sống và trong sản xuất.
e) Các phƣơng pháp chung của nhận thức khoa học và những phƣơng pháp đặc thù của VL, trƣớc hết là phƣơng pháp thực nghiệm và phƣơng pháp mô hình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ * Về kĩ năng a) Biết quan sát các hiện tƣợng và quá trình VL trong tự nhiên, trong đời sống hằng ngày hoặc trong các thí nghiệm; biết điều tra, sƣu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu thập thông tin cần thiết cho việc học tập môn VL. b) Sử dụng đƣợc các dụng cụ đo phổ biến của VL; biết lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm VL đơn giản. c) Biết phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu đƣợc để rút ra kết luận, đề ra các dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tƣợng hoặc quá trình VL, cũng nhƣ đề xuất phƣơng án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra.
d) Vận dụng đƣợc kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tƣợng và quá trình VL, giải các bài tập VL và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và sản xuất ở mức độ phổ thông. e) Sử dụng đƣợc các thuật ngữ VL, các biểu, bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác những hiểu biết, cũng nhƣ những kết quả thu đƣợc qua thu thập và xử lí thông tin. * Về thái độ a) Có hứng thú học VL, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng góp của VL cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học. b) Có thái độ khách quan, trung thực; có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và có tinh thần hợp tác trong việc học tập môn VL, cũng nhƣ trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt đƣợc.
c) Có ý thức vận dụng những hiểu biết VL vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng nhƣ để bảo vệ và giữ gìn môi trƣờng sống tự nhiên. d) Có thế giới quan, nhân sinh quan, tƣ duy khoa học và những phẩm chất năng lực theo mục tiêu của giáo dục phổ thông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.2 Lý thuyết kiến tạo trong dạy học 1. Cơ sở tâm lý học của lý thuyết kiến tạo Lý thuyết kiến tạo xuất phát từ một quan điểm của J.Piaget (nhà tâm lý học lỗi lạc ngƣời Thụy Sĩ, 1896 - 1980) về các cấu trúc nhận thức.
Theo quan điểm này, hoạt động nhận thức của con ngƣời liên quan đến việc tổ chức thông tin và thích nghi với môi trƣờng mà ngƣời học tri giác nó thông qua quá trình đồng hóa và điều ứng. Đồng hóa là một phần của sự thích nghi, là cơ chế giữ gìn cái đã biết và cho phép ngƣời học vận dụng những cái đã biết để giải quyết tình huống mới. Còn sự điều ứng chỉ thực sự xuất hiện khi những gì đã học không đủ để giải quyết các tình huống mới. Để giải quyết các tình huống này, ngƣời học có thể điều chỉnh, thậm chí là bác bỏ các nhận thức, quan niệm cũ.
Cân bằng là sự điều chỉnh của chủ thể giữa hai quá trình đồng hóa và điều ứng. Nhƣ vậy, đồng hóa không làm thay đổi nhận thức mà chỉ mở rộng cái đã biết, còn điều ứng là làm thay đổi nhận thức và khi một học sinh tiếp xúc với một thông tin mới, sự mất cân bằng sẽ bắt đầu xuất hiện cho tới khi có sự thích nghi với thông tin mới và khi đó sẽ có sự cân bằng. Cơ sở triết học của lý thuyết kiến tạo Trong triết học duy vật biện chứng, tƣ tƣởng chính của lý thuyết kiến tạo đã đƣợc nhận thức luận Mác – Lênin khẳng định trong luận đề: Thế giới tự nhiên đƣợc tạo nên bởi vật chất, vật chất luôn vận động và tồn tại khách quan, con ngƣời có thể phản ánh đƣợc sự tồn tại và vận động của vật chất trong tƣ duy và hành động của mình. Nhƣ vậy, con ngƣời phải kiến tạo nên hệ thống tri thức để phản ánh thực tại xung quanh mình.
Nếu hệ thống tri thức càng phong phú thì thực tại khách quan càng đƣợc phản ánh một cách sâu sắc và đầy đủ hơn. Một số hiện tƣợng con ngƣời chƣa giải thích đƣợc đó là do hệ thống tri thức chƣa đƣợc kiến tạo một cách đầy đủ. Khi đó, xuất hiện yêu cầu mở rộng tri thức và điều này Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ thúc đẩy con ngƣời không ngừng nỗ lực hoạt động và con ngƣời ngày càng nhận thức đƣợc thực tại sâu sắc hơn và tiệm cận với chân lý hơn.[24] Ta thấy rằng: tƣ tƣởng nền tảng của lý thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức. Trong quá trình học tập, ngƣời học không ngừng nổ lực tƣ duy để vƣợt qua những khó khăn nhận thức, nhiều khi phải thay đổi những quan niệm không phù hợp để xây dựng quan niệm mới.
Một số luận điểm cơ bản của lý thuyết kiến tạo trong dạy học[7] Là một trong những ngƣời tiên phong trong việc vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học, Von Glasersfeld (nhà triết học ngƣời Đức, sinh năm 1917) đã nhấn mạnh một số luận điểm cơ bản làm nền tảng của lý thuyết kiến tạo nhƣ sau: a) Tri thức đƣợc tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài. Luận điểm này khẳng định vai trò quyết định của chủ thể trong quá trình học tập, nó hoàn toàn phù hợp với thực tiễn trong quá trình nhận thức. Trong dạy học điều này cũng đƣợc thực hiện rõ ràng, chẳng hạn: khái niệm cùng phƣơng và cùng giá. Mặc dù GV có thể đƣa ra nhiều ví dụ khác nhau xoay quanh hai khái niệm trên nhƣng chúng chỉ có thể đƣợc tạo nên trong chính tƣ duy của HS.
b) Nhận thức là một quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của chính mỗi ngƣời. Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể. Theo quan điểm này, nhận thức không phải là quá trình HS thụ động thu nhận những chân lý do ngƣời khác áp đặt, mà họ đƣợc đặt trong một môi trƣờng có dụng ý sƣ phạm. Ở đó HS đƣợc khuyến khích vận dụng những kỹ năng đã có để thích nghi với những đòi hỏi của môi trƣờng mới, từ đó hình thành nên tri thức mới.
Nhƣ vậy, luận điểm này hoàn toàn phù hợp với quy luật nhận thức của loài ngƣời. Chẳng hạn, sau khi HS đã có kiến thức về điều kiện cân bằng của một vật chịu tác dụng của hai lực, HS Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ dựa vào đó để đƣa ra phƣơng pháp xác định trọng tâm của một vật phẳng, mỏng có hình dạng bất kỳ. c) Học là một quá trình mang tính xã hội trong đó học sinh dần dần tự hòa mình vào các hoạt động trí tuệ của những ngƣời xung quanh. Trong lớp, học sinh không chỉ tham gia vào việc khám phá mà còn tham gia vào quá trình xã hội bao gồm việc giải thích, trao đổi, đàm phán và đánh giá.
Chẳng hạn, khi GV đƣa ra câu hỏi: Trọng tâm của vật rắn nằm ở đâu? HS thảo luận nhóm và đƣa ra các câu trả lời: Nhóm 1: Nằm tại điểm chính giữa vật Nhóm 2: Nằm tại tâm hình học của vật rắn Nhóm 3: Nằm trên vật Nhóm 4: Nằm tại điểm đặt của trọng lực Các HS đều đƣa ra lý lẽ để bảo vệ ý kiến của mình, ở đây xuất hiện các mối quan hệ tƣơng tác với nhau. d) Kiến thức và kinh nghiệm mà cá nhân thu nhận phải tƣơng xứng với những yêu cầu mà tự nhiên và xã hội đặt ra. Luận điểm này định hƣớng cho việc dạy học theo quan điểm kiến tạo không lệch khỏi mục tiêu của giáo dục phổ thông, tránh tình trạng HS phát triển một cách tự do dẫn đến tri thức thu đƣợc trong quá trình học tập là lạc hậu hoặc quá xa vời tri thức khoa học phổ thông, không phù hợp với lứa tuổi, không phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn.