mở đầu bằng từ “làm thế nào”, ví dụ: Làm thế nào để tạo ra dòng điện? Làm thế nào để người cận thị nhìn rõ được các vật ở xa? làm thế nào để di chuyển electric trong chân không. nói tóm lại các câu hỏi phải xuất phát từ hiện tượng khoa học - Giai đoạn 2: Đưa ra giả thuyết hay dự đoán khoa học làm cơ sở cho việc trả lời câu hỏi khoa học. Để đưa ra một đơn vị kiến thức, các nhà khoa học phải tiến hành thực nghiệm hoặc từ quan sát thực tế, họ lấy được số liệu từ thực nghiệm sau đó phân tích kết quả đó.Trong học tập cũng vậy, người học cũng phải tuân theo qui trình như trên thì mới có để tìm được các đơn vị kiến thức vật lí. - Giai đoạn 3: Tiến hành các thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết Sau khi đã đưa ra các giả thuyết, vậy để tìm ra được đâu là giả thuyết có tính khả thi chúng ta phải tiến hành thực nghiệm.
Nếu giả thuyết mà chúng ta đưa ra chưa có tính đúng đắn hoặc đang theo chiều hướng phản ánh không đúng một sự vật nào đó, nó phản ánh sai các hiện thực khách quan thì đó là giả thuyết sai, sau đó chúng ta phải đưa ra giả thuyết mới và kiểm tra tính đúng đắn của nó tức là chúng ta lại quay về hiện tượng ban đầu và bắt đầu phân tích theo chu kì mới. - Giai đoạn 4: Kết luận. Sau khi nghiên cứu được kết quả ta thấy kết quả phản ánh đúng hiện tượng thực tế thì giả thuyết đúng ta rút ra kết luận về vấn đề cần nghiên cứu và vận dụng kết luận tìm được để tiếp tục giải thích hiện tượng khách quan mới - Giai đoạn 5: Tiến hành báo cáo kết quả có được từ nghiên cứu đồng thời bảo vệ kết quả đó. Học sinh báo cáo kết quả nghiên cứu được của mình trước tập thể lớp đồng thời bảo vệ những thành quả đó trước những ý kiến trái chiều của các thành viên khác, không những thế mà còn phải giải thích cho các bạn khác rõ hơn (nếu cần thiết).
Trong khám phá khoa học các nhà khoa học cần phải công bố nghiên cứu một cách trung thực và chi tiết đủ để những nhà khoa học khác có thể tái tạo lại các nghiên cứu đó nếu cần thiết. Tương tự, học sinh chia sẻ và so sánh kết quả của mình với các bạn trong lớp, thông qua đó, tạo cơ hội đặt ra các câu hỏi, kiểm tra các bằng chứng, xác định các lập luận sai lầm, xem xét các giải pháp thay thế và có thể nhận thức được kết quả nghiên cứu có quan hệ với các kiến thức khoa học hiện tại như thế nào. 13 Dạy học tìm tòi khám phá không phải là một chuỗi các hoạt động theo quy trình cứng nhắc mà có thể thay đổi và sử dụng linh hoạt phụ thuộc vào mức độ nhận thức và năng lực của HS.Ở bài học này, có thể thấy đầy đủ các giai đoạn đặc trưng của dạy học tìm tòi khám phá nhưng trong bài học khác, chỉ một vài giai đoạn đặc trưng được thể hiện rõ. Kỹ thuật KWL - Là hình thức dạy học mà đứng trước một vấn đề nào đó, học sinh đi tìm tài liệu sau đó tham khảo (đọc) tài liệu mà mình có được và ghi những điều mà mình biết được vào cột K (kown).
Sau đó học sinh sẽ được thực hiện những nhiệm vụ tạo mâu thuẫn để đặt ra các câu hỏi em muốn biết điều gì và được ghi trong cột W( Want), tiếp tục các em tranh luận về kiến thức hoặc t đọc tài liệu cũng như những hiểu biết trong thực tế đặc biệt là thí nghiệm thì toàn bộ điều em học được sẽ được học sinh điền vào cột L ( Learn) - Kỹ thuật KWL có những ưu điểm sau Tạo cơ hội để học ôn lại kiến Nêu mục Củng cố tự kiểm tra sinh tìm tòi bên thức cũ tiêu bài học kiến thức bản thân ngoài sách vở - Qui trình thực hiện + Chọn bài đọc. Nên chọn những bài có nội dung mang tính khuyến khích HS tìm tòi, gợi mở + Tạo bảng KWL. Giáo viên chuẩn bị để mỗi học sinh có một bảng KWL theo mẫu Bảng 1. Cách sử dụng kĩ thuật KWL K W L (Những điều đã ( Những điều muốn (Nội dung có được khi bài học biết) biết) kết thúc) …………………… …………………… …………………………………… …………………… ……………………… ……………………………….
+ Đề nghị học sinh tập trung suy nghĩ nhanh đồng thời nêu ra những kiến thức đã biết mà kiến thức đó liên quan đến chủ đề và ghi vào cột K. Học sinh thảo luận về những gì em đã ghi nhân, nêu ra tất cả các ý tưởng. + Trong các đơn vị kiến thức mà các em tìm hiểu được từ tài liệu, nếu đơn vị nào các em đã hiểu thì phải ghi vào cột K, đơn vị kiến thức nào các em chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ thì các em cùng nhau tìm hiểu thêm và ghi nội dung đó vào cột W dưới dạng những câu hỏi để tăng tính tò mò cho người học. Lúc này các em rất hào hứng 14 biết được nội dung của cột W và khi đang tò mò tìm hiểu thì kết thúc cột W, ở cột này có câu hỏi các em trả lời ngay được, nhưng cũng có câu hỏi cần thời gian về nhà các em mới có thể trả lời được.
+ Cột L, đó là vị trí mà sau khi các em tìm hiểu về nội dung của bài với những nội dung ở K và W, các nội dung được đưa ra thảo luận trước lớp sau khi có được kết quả thấu đáo thì các em ghi vào cột L và đó cũng là cột đẩy đủ nội dung của vấn đề cần nghiên cứu. Một số lưu ý về việc định hướng học sinh ghi các cột K,W, L Định hướng để HS Định hướng để HS Định hướng để HS ghi vào cột ghi vào cột ghi vào cột những kiến (K) (W) thức học được khi bài học kết thúc (L) - Nêu ra các câu hỏi để -Hỏi những câu hỏi gợi mở - Khuyến khích HS ghi kích thích trí nhớ của HS "Em nghĩ mình sẽ biết thêm những điều cảm thấy tâm giúp HS nhớ lại những được điều gì sau khi đọc chủ đề đắc nhất và có ích nhất với kiến thức đã được học. này?"hoặc chọn một ý tưởng từ bản thân. -Khuyến khích học sinh cột K và hỏi:"Em có muốn tìm - Các câu hỏi ở cột W có giải thích, cơ hội các hiểu thêm điều gì có liên quan ý thể không trả lời hoàn chỉnh em khẳng định, củng cố tưởng này không?" trong nội dung bài học, GV lại kiến thức - Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi có thể yêu cầu HS tìm hiểu để bổ sung vào cột W khi các thêm qua các kênh thông tin câu hỏi của HS ít liên quan đến khác để thỏa mãn nhu cầu ý tưởng chủ đạo của bài đọc.
nhận thức của mình 1. Tổ chức dạy học theo hình thức hoạt động nhóm (dạy học theo nhóm) - Khái niệm V.Ôkôn cho rằng mục đích của quá trình học tập phải được xác định rõ ràng. So với hoạt động học tập đơn lẻ thì hoạt động học tập theo nhóm sẽ có hiệu quả và gây được hứng thú hơn. Kết quả là HS đã giải quyết được vấn đề xảy ra trong học tập cũng như trong đời sống.
[14] Ở đây học sinh trong một đơn vị lớp sẽ được chia thành nhóm hoặc tiểu nhóm nhỏ đồng thời được phân công chức vụ cụ thể và cùng nhau đi tìm hiểu một nội dung nào đó dưới sự định hướng trước của người dạy. Ban đầu mỗi HS hoạt động độc lập 15 theo nhiệm vụ cá nhân mà nhóm đã phân công cho mình sau đó các em tổng hợp ý kiến của mình để hoàn thành nhiệm vụ của cả nhóm. Cuối cùng các em đưa kết quả tìm được để trình bày trước lớp. Vai trò của GV là khích lệ và động viên, trợ giúp để các nhóm hoạt động có hiệu quả hơn.
- Hình thức dạy học theo nhóm: [10] * Thống nhất nhiệm vụ học tập Ở đây các HS trong cùng lớp sẽ có chung nhiệm vụ hay mục đích và sản phẩm của các nhóm là như nhau - Ưu điểm: Đơn giản, phù hợp với nội dung kiến thức có cấu trúc đường thẳng - Nhược điểm: Xuất hiện một hoặc một vài học sinh không chịu tham gia vào các hoạt động của nhóm + Thảo luận nhanh: Ở đây, GV cung cấp đầy đủ dữ liệu và yêu cầu nhóm học sinh (từ hai đến 3 người) thảo luận trong khoảng thời gian ngắn (thường dưới 5 phút) về một vấn đề cần phác thảo những ý tưởng về nội dung nào đó. Sau đó GV tổ chức để các nhóm báo cáo trước lớp, các nhóm khác lắng nghe, bổ sung những nội dung còn hạn chế, còn chưa rõ + Cấu trúc STAD (Student Teams Achievements Division) [8] - Hình thức kiểm tra: từng cá nhân. - Ưu điểm của STAD là đánh giá sự tiến bộ của bản thân chứ không phải sự hơn kém về khả năng, như vậy bản thân người đánh giá cũng dễ nhận biết sự tiến bộ của bản thân và không e ngại với bạn. Minh họa của cơ chế đánh giá STAD như bảng 1.
Cơ chế đánh giá theo cấu trúc STAD qua mỗi lần kiểm tra Lần 1 Lần 2 Chỉ số cố gắng Kết (điểm) (điểm) quả Thành viên số 1 4 6 2 Thành viên số 2 6 9 3 Thành viên số 3 8 9 0 Thành viên số 4 6 6 0 Tổng của sự cố gắng có chỉ số là 5 Như theo kiểu chấm điểm của cơ chế này thì HS kém cũng có thể mang điểm về cho nhóm bởi ưu điểm của cơ chế là đánh giá sự tiến bộ của HS - Loại được một số thành viên ăn theo sản phẩm của nhóm. - Tiêu chí đánh giá dựa vào sự tiến bộ dần của HS. 16 * Phân hóa về nhiệm vụ học tập a. Phân hóa ở cấp độ nhóm nhưng thống nhất ở cấp độ lớp Nhiệm vụ các nhóm trong lớp giống nhau nhưng nhiệm vụ của các thành viên trong cùng nhóm là khác nhau tuy nhiên các nhiệm vụ đó phải được liên kết với nhau.
Ưu điểm - Các HS đều phải nâng cao ý thức trách nhiệm về nhiệm vụ của mình đối với công việc của nhóm, bởi kết quả cá nhân ảnh hưởng trực tiếp đến thành tích của nhóm.