Chương I được trình bày chủ yếu dựa trên tài liệu của Giáo sư Đoàn Định Kiến [7] và một số tài liệu liên quan. Nội dung của chương này chủ yếu đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan đến kết cấu thanh thành mỏng như vật liệu, chế tạo, lắp dựng, ưu, nhược điểm, phạm vi áp dụng, tình hình sử dụng, tiêu chuẩn thiết kế kết cấu thanh thành mỏng ở trên Thế giới và ở Việt Nam, từ đó đề ra mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của đề tài. KHÁI NIỆM VỀ THANH THÀNH MỎNG. Theo Vlasov [17], thanh thành mỏng là thanh thẳng với kích thước theo ba chiều có bậc khác nhau.
Nếu gọi 1 là chiều dài thanh, h là kích thước theo một cạnh nào đó của tiết diện, t là bề dày của thành (Hình 1-1) thì thanh được xem là thanh thành mỏng khi có các tỉ số như sau: t/h 0,1; h/1 0, l. Tiết diện của thanh thành mỏng có thể hở hoặc kín. Kích thước của thanh thành mỏng Khái niệm thanh thành mỏng của Vlasov dựa trên việc phân tích ứng suất trong thanh có kể đến xoắn kiềm chế hay không kể đến xoắn kiềm chế. Tiêu chuẩn Châu Âu Eurocode 3 [8] cũng đưa ra khái niệm thanh thành mỏng thông 9 qua việc phân loại tiết diện thanh.
Việc phân loại đó dựa trên cơ sở độ ổn định cục bộ, hình dạng tiết diện thanh, trạng thái chịu lực của thanh và tỉ số giữa các kích thước của tiết diện. Theo đó, người ta chia thành 4 loại tiết diện thanh: tiết diện đặc, tiết diện nửa đặc, tiết diện mảnh và tiết diện rất mảnh (tiết diện thành mỏng). Biểu đồ quan hệ ứng suất - biến dạng của các loại thanh theo cách phân loại của tiêu chuẩn châu âu Eurocode 3. - Thanh có tiết diện đặc: là thanh có khả năng hình thành khớp dẻo, trong đó khớp dẻo có thể quay tự do.
- Thanh có tiết diện nửa đặc: là thanh có khả năng hình thành khớp dẻo, nhưng góc quay của khớp dẻo bị giới hạn do bị phá hoại vì sự mất ổn định cục bộ. - Thanh có tiết diện mảnh: là thanh ngay khi vật liệu bắt đầu bị chảy dẻo thanh bị phá hoại do sự mất ổn định cục bộ. - Thanh có tiết diện rất mảnh (thanh thành mỏng): là thanh bị phá hoại do sự mất ổn định cục bộ khi vật liệu đang làm việc trong giai đoạn đàn hồi. Bảng sau trích ra từ Bảng 5-2 tiêu chuẩn Eurocode 3 [8] giới thiệu một số loại thanh thông dụng theo tiêu chuẩn Eurocode 3.
Ở đây, những thanh không thuộc 3 loại (Thanh đặc; Thanh nửa đặc; Thanh mảnh) trong bảng là thanh thành mỏng (thanh rất mảnh). 10 Bảng 1-1: Phân loại thanh theo tiêu chuẩn Eurcode 3 [8] 11 Bảng 1-2: Phân loại thanh theo tiêu chuẩn Eurcode 3 [8] 12 1. CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT CẤU THANH THÀNH MỎNG. Thép Thép dùng để chế tạo tiết diện uốn nguội có thể là loại thép cacbon thấp thông thường tương đương với CT3 (Nga), CT38, CT42 (Việt Nam) có giới hạn chảy 2200 đến 2600daN/cm2.
Cũng có thể dùng thép hợp kim thấp tương đương với 09Mn2, 14Mn, giới hạn chảy 3400 tới 3900daN/cm2. Các thép này có độ dãn dài cao 22 - 26% có thể chịu được thử nghiệm uốn gập nguội. Tuy nhiên, thép dạng cuộn (coil) để chế tạo kết cấu thành mỏng thì Việt Nam mới sản xuất được một số cấu kiện như ( thép hình chữ C, I, mái tôn mạ mầu ….) Thông dụng nhất là thép cacbon ASTM A 570 cấp 50 hoặc thép hợp kim thấp A607 hay A792, đều có giới hạn chảy 345N/mm2. Giới hạn chảy (fy) Giới hạn bên (Fu) Tên tiêu chuẩn Cấp thép (N/mm2) (N/mm2) AS1163 C250 250 320 C350 350 430 C450 450 500 AS1397 G250 250 320 G300 300 340 G350 350 430 G450 450 480 G500 500 520 G550 550 550 AS/NZS 3678 200 (t < 8mm) 200 300 250(t < 8mm) 250 410 300(t < 8mm) 300 430 350(t < 8mm) 350 450 400(t < 8mm) 400 480 Bảng 1-3: Thép dùng làm kết cấu tạo hình nguội theo Tiêu chuẩn Úc (Trích từ bản 1-5 tiêu chuẩn AS4600:1996 [3]) 13 Ba loại thép của bảng G450, G500 và G550 (con số chỉ giới hạn chảy của thép N/mm2) là loại đặc biệt có cường độ cao.
G450 dùng cho cấu kiện có bề dày l,5mm, G500 dùng cho cấu kiện có bề dày l,0mm nhưng < 1,5 min còn G550 dùng cho cấu kiện có bề dày 1,0mm. Dùng thép có cường độ cao không phải lúc nào cũng tiết kiệm được phép vì kích thước cấu kiện thành mỏng thường bị giới hạn bởi điều kiện ổn định, không tận dụng được cường độ cao. Theo AS 4600:1996 thép có các số liệu khác như sau: Môđun đàn hồi: E = 2,00 x 104 kN/cm2. Môđun đàn hồi trượt G = 8000 kN/cm2.
Tiêu chuẩn Châu Âu Euro Code 3 cũng quy định các loại thép dùng để chế tạo thanh thành mỏng về cơ bản, các loại thép này tương đương với các loại thép trong tiêu chuẩn của Úc AS 4600:1996. Bảng sau liệt kê một số loại thép thông dụng theo tiêu chuẩn Châu Âu, được trích ra từ bạng 1.3 Tiêu chuẩn Eurocode 3 [9]. Giới hạn chảy (fy) Giới hạn bền (fu) Tên tiêu chuẩn Cấp thép MPa MPa EN 10025 S235 235 360 S275 275 430 S355 355 510 EN 10113: Part 2 S275 N 275 370 S355 N 355 470 S420 N 420 520 S460N 460 550 S275 NL 275 370 S355 NL 355 470 S420 NL 420 520 S460 NL 460 550 EN 10113: Part 3 S275 M 275 360 S355 M 355 450 S420 M 420 500 S460M 460 530 S275 ML 275 360 S355 ML 355 450 S420ML 420 500 14 Giới hạn chảy (fy) Giới hạn bền (fu) Tên tiêu chuẩn Cấp thép MPa MPa S460 ML 460 530 ISO 4997 CR 220 220 300 CR250 250 330 CR320 320 400 EN 10147 S220GD+Z 220 300 S250GD+Z 250 330 S280GD+Z 280 360 S320GD+Z 320 390 S350GD+Z 350 420 EN 10149: Part 2 S315MC 315 390 S355 MC 355 430 S420 MC 420 480 S460 MC 460 520 S500 MC 500 550 S550 MC 550 600 S600 MC 600 650 S650 MC 650 700 S700 MC 700 750 EN 10149: Part 3 S260 NC 260 370 S315NC 315 430 S355 NC 355 470 S420 NC 420 530 EN 10268 H240LA 240 340 H280LA 280 370 H320LA 320 400 H360LA 360 430 H400LA 400 460 EN 10214 S220GD+ZA 220 300 S250GD+ZA 250 330 S280GD+ZA 280 360 S320GD+ZA 320 390 S350GD+ZA 350 420 Bảng 1-4: Thép dùng làm kết cấu tạo hình nguội thông dụng theo tiêu chuẩn Châu Âu [9]. Tiết diện tạo từ thép tấm mỏng Thép được cán nóng thành tấm rất mỏng dạng cuộn là phôi để tạo hình ra cấu kiện thành mỏng.
Bằng các cách gia công nguội, có thể tạo từ tấm thép 15 mỏng ra tiết diện hình bất kì. Nhiều trường hợp hình thức và kích thước tiết diện thép hình uốn nguội được chọn riêng lẻ cho phù họp với nhiệm vụ của từng công trình. Khi tự chọn và thiết kế hình thức tiết diện cần xét các điều sau: - Khả năng chế tạo được thép hình bằng thiết bị hiện có của nhà sản xuất; - Điều kiện sử dụng công trình; - Khả năng chế tạo kết cấu bằng thiết bị hiện có của nhà sản xuất; - Sự chịu lực của các thanh thép hình và liên kết của chúng. Đặc trưng và công suất của các máy gia công sẽ quyết định bề rộng và bề dày của tấm thép phôi, chiều dài tối đa của sản phẩm, bán kính uốn, bề dài tối thiểu của đoạn thẳng của tiết diện.
Đối với tiết diện kín thì phải có điều chỉnh tuỳ theo đường nối và công nghệ chế tạo. Khi thiết kế hình dạng tiết diện cán nguội, cần lưu ý các yêu cầu sau: - Góc uốn vuông phải có bán kính r = l ,2 đến 1,5 lần bề dày bản thép. - Chú ý vấn đề an toàn phòng gỉ. + Về hình dạng, nên dùng tiết diện hở, vì dễ tiếp cận vào phía trong để lau chùi, sơn.
Tránh tạo hình máng, dễ tích bụi ẩm. Nếu bắt buộc làm thì cần tạo độ dốc hoặc có lỗ thoát. + Về bề dày tối thiểu đề phòng gỉ tham khảo các trị số sau: l,5mm đối với kết cấu có mái che kín, 3mm đối với kết cấu lộ thiên, 3,5mm đối với kết cấu trong môi trường ăn mòn. - Về mặt chịu lực: + Thanh chịu nén nên dùng tiết diện hình hộp, tiết diện có mép cứng, vì mép cứng làm tăng ổn định cục bộ, làm tăng độ cứng của tiết diện; + Thanh chịu kéo: làm tiết diện gọn hơn, dùng thanh dày hơn.
+ Hạn chế hàn trực tiếp thành mỏng với thành dày của cấu kiện cán khác. Vấn đề phòng gỉ Phòng gỉ cho kết cấu thép thành mỏng là cực kỳ quan trọng. Kết cấu thành mỏng không được bảo vệ tốt sẽ phá huỷ nhanh chóng trong thời gian ngắn. Hiện tượng gỉ Sự gỉ của kết cấu kim loại chủ yếu là hiện tượng ăn mòn điện hoá.
Trên bề mặt kim loại có những phần tử vi mô hoạt động như những điện cực. Tiếp xúc với chất điện giải là dung dịch nước của hơi nước không khí có chứa các hợp chất, khí cacbonic. Dòng điện xuất hiện, cực dương bị tan trong chất điện phân. Thế hiệu giữa các cực càng lớn, dòng điện càng mạnh và sự ăn mòn càng nhanh.
Hiện tượng ăn mòn điện hoá xảy ra khi: - Tiếp xúc giữa hai kim loại: Ví dụ mạ thép bằng kiềm hoặc bằng kẽm, khi có hư hại chỗ mạ, để lộ thép ra. Nếu mạ kiềm, sắt có điện tích âm lớn hơn kiềm, sẽ trở thành anôt và bị hoà tan. Sự ăn mòn rất nhanh vì điện tích anôt (sắt để lộ) rất nhỏ so với diện tích catôt (lóp mạ kền). Nếu mạ kẽm, vì kẽm có điện tích âm lớn hơn sắt sẽ trở thành anôt bị hoà tan và sẽ bị phủ lên thép một lớp bảo vệ.
Trường hợp này gọi là lớp bảo vệ anôt. Nói chung khi thép tiếp xúc với kim loại có điện tích âm lớn hơn như kẽm, nhôm măng gan thì thép được bảo vệ chống gỉ: - Tiếp xúc kim loại với chất phi kim: Các tạp chất oxyt, sulfat tan trong kim loại có điện tích khác với sắt tạo nên điện cực cùng với kim loại cơ bản. - Sự phủ một lớp oxyt trên kim loại: Thép được gia công cơ khí hay nhiệt luyện thì trên mặt có một lớp oxyt phủ mỏng, thép không gia công cũng được phủ bởi một lớp gỉ là oxyt, cũng sẽ bảo vệ cho thép không bị gỉ tiếp nữa. Nhưng nếu lớp gỉ này bị hư hại và oxyt có điện thế lớn hơn thép trở thành anôt và bị ăn mòn.