CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NỀN LIÊN HỢP Để đảm bảo ổn định, bằng phẳng, vận hành với vận tốc cao trong thiết kế đường cao tốc cũng như đường cấp cao khác cần phải khống chế bến dạng và tính ổn định của nền đường, nền đường có khả năng xuất hiện các nguyên nhân gây hư hỏng khác là một trong những nhân tố khống chế quan trọng đầu tiên trong việc kiểm soát chất lượng đảm bảo tiến độ của đường, chất lượng của đường cao tốc. Tuy nhiên nền đường tự nhiên khó có khả năng tiếp nhận được toàn bộ tải trọng và đảm bảo sức chịu tải hoặc các yêu cầu về độ lún, từ đó cần phải thiết kế xử lý đảm bảo ổn định của nền đường. Các giải pháp đang áp dụng như thoát nước cố kết, thay đất, cọc xi măng đất, cọc bê tông xi măng đúc sẵn hay cọc bê tông xi măng đổ tại chỗ (hệ cọc cứng) tạo thành nền liên hợp. Nền liên hợp sử dụng cọc bê tông xi măng trong một số năm gần đây được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới để xử lý nền đất yếu.
Giải pháp nền liên hợp với những ưu điểm thời gian thi công nhanh sau khi xử lý nền có thể tiến hành đắp trực tiếp đến cao độ thiết kế, dễ dàng quản lý chất lượng, rất thích hợp cho xử lý nền các công trình đường cao tốc. Giải pháp này đã được Ấn Độ, Trung Quốc ứng dụng nhiều vào xử lý nền đường ô tô cao tốc, đường sắt cao tốc, tuy nhiên giá thành còn cao, cần nghiên cứu thiết kế để hạ giá thành. Ở Việt Nam để giải pháp này trở thành giải pháp chính thức cần có nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm tạo thành luận chứng đầy đủ để áp dụng giải pháp này rộng rãi trong các công trình đường ô tô, đặc biệt là đường ô tô cấp cao. Tác giả đã tìm hiểu các lý thuyết tính toán nền liên hợp và trong chương mục này, tác giả luận văn trình bày các nội dung cơ bản sau: Sự phát triển nền liên hợp sử dụng cọc bê tông xi măng.
Sự làm việc của nền liên hợp sử dụng cọc bê tông xi măng. Ảnh hưởng của lớp đệm đầu cọc trong nền liên hợp sử dụng cọc bê tông xi măng.1 Sự phát triển nền liên hợp sử dụng cọc bê tông xi măng.1 Tổng quan về nền liên hợp a. Sự hình thành và phát triển của biện pháp xử lý nền đất yếu 16 Việc xây dựng đường trên nền đất yếu, địa chất phức tạp luôn là một vấn đề rất được quan tâm không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn cả các nước trên thế giới. Từ trước tới nay đã có rất nhiều biện pháp xử lý nền đất yếu được sử dụng để đảm bảo nền đường làm việc ổn định thỏa mãn yêu cầu khai thác của nền đường, tiêu biểu như: Nhóm 1: nhóm giải pháp cải thiện sức chịu tải của nền đất như: Đào thay đất: Sử dụng ở lớp mặt nền đất yếu có chiều dày nhỏ hơn 3m thường kết hợp với thoát nước theo chiều thẳng đứng.
B 2% 2% §µo thay ®Êt h=2-3m §¾p tr¶ b»ng c¸t h¹t nhá líp v¶i §KT lo¹i dÖt c-êng ®é 50 kN/m Hình 1.1: Mặt cắt ngang xử lý nền đất yếu bằng đệm cát Đầm chặt bằng quả rơi tự do: áp dụng cho nền đất yếu có độ ẩm nhỏ, tận dụng được nền đất thiên nhiên, giảm khối lượng đào đắp. Bệ phản áp: dùng để tăng độ ổn định và chống trượt trồi công trình. Không cần khống chế tiến trình đắp.2: Mặt cắt ngang xử lý nền đất yếu bằng bệ phản áp 17 Thoát nước thẳng đứng kết hợp gia tải trước (phương pháp cọc cát, giếng cát, bấc thấm): sử dụng xử lý lớp bùn đất, bùn sét, độ sâu xử lý có thể lên tới 40m. Tuy nhiên thời gian thi công kéo dài do biện pháp này cần thời gian để đất cố kết lún.
Biện pháp này thường kết hợp với gia tải trước.3: Nền đường sử dụng phương tiện thoát nước thẳng đứng Phương pháp thoát nước thẳng đứng kết hợp gia tải bằng hút chân không: sử dụng với bùn đất, nền móng thuộc lớp bùn dính. Có thể kết hợp với giếng cát hoặc bấc thấm.4: Sơ đồ công nghệ hút chân không 18 Nhóm 2: nhóm giải pháp gia cường nền đất yếu như: Sử dụng cọc tre, cọc cừ tràm: xử lý nền đất yếu có chiều sâu nhỏ, nền đất ở trạng thái ẩm ướt. Làm tăng sức chịu tải và giảm độ lún của nền đất. Cọc cát đầm: chiều sâu xử lý tương đối lớn, tăng cường độ ổn định nền đắp, rút ngắn thời gian thi công.
Vải địa kỹ thuật, lưới địa kỹ thuật: làm tăng độ bền, tính ổn định do ma sát giữa lớp đất đắp và vải địa kỹ thuật, tạo ra lực giữ khối đất đắp cho các tuyến đường đi qua những khu vực có nền đất yếu như sét mềm, bùn, than bùn. Thường được kết hợp với các phương pháp xử lý khác để đạt được yêu cầu cao hơn.5: Bố trí vải địa kỹ thuật để tăng cường chống trượt cho thân nền đường Cọc đá balát: làm tăng độ bền, sức chống cắt cho đất yếu, giảm độ lún công trình, sử dụng khi nền đất yếu mỏng, không quá 15m. Cọc xi măng đất, cọc vôi: thay thế một phần đất yếu, tạo ra lực ma sát giữa cọc và đất từ đó cọc và đất cùng làm việc. Tăng tính kháng cắt, giảm độ lún nền móng công trình.
Thích hợp với các loại đất yếu, rút ngắn thời gian thi công so với biện pháp thoát nước thẳng đứng. Cọc ống bê tông xi măng đúc sẵn, cọc bê tông xi măng đổ tại chỗ: chịu phần lớn tải trọng nền đắp, giảm độ lún nền đường. Thời gian thi công nhanh, kiểm soát chất lượng tốt, độ ổn định công trình cao, giảm chiều cao đắp. Do yêu cầu về tiến độ, độ ổn định trong quá trình khai thác nên các nước trên thế giới thường áp dụng giải pháp gia cường nền đất yếu bằng hệ thống cọc đặc biệt 19 là nhóm cọc có cường độ cao (cọc bê tông xi măng đúc sẵn, cọc bê tông xi măng đổ tại chỗ) để thi công các công trình đường sắt, đường cao tốc.
Giải pháp này lần đầu tiên được áp dụng rộng rãi tại Hà Lan với chiều dài nền đường gia cố là 14km vào năm 2007, đến năm 2009 đã có ít nhất 20 công trình đường cao tốc và đường sắt sử dụng giải pháp này. Tại Đức sử dụng trong tuyến đường sắt HamBurg - Berlin dài 13km năm 2003. Tuyến đường sắt cao tốc Bắc Kinh - Thiên Tân dài 115km sử dụng cọc bê tông đúc sẵn đường kính 45cm có chiều dài lên tới 35m. Tại Việt Nam sử dụng cọc xi măng đất tại dự án đường cao tốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, dự án đại lộ Đông Tây.6: Tuyến đường sắt HamBurg - Berlin sử dụng cọc bê tông xi măng Hình 1.7: Quá trình thi công tại tuyến đường sắt Bắc Kinh - Thiên Tân 20 Hình 1.8: Nền đường sau khi thi công cọc tại tuyến đường sắt Bắc Kinh - Thiên Tân Với sự phát triển của các phương pháp xử lý nền đất yếu của Việt Nam nói riêng cũng như của thế giới nói chung, ta có thể thấy các phương pháp này đang dần tiến đến rút ngắn thời gian thi công nhằm đáp ứng yêu cầu sớm đưa công trình vào khai thác và tận dụng khả năng làm việc của nền đất yếu qua đó giảm giá thành công trình.
Hiện nay có nhiều nước trên thế giới đã áp dụng những giải pháp sử dụng cọc xi măng đất, cọc bê tông xi măng để xử lý nền đất yếu., khắc phục những nhược điểm của công nghệ truyền thống, rút ngắn thời gian thi công. Tiêu biểu là các nước đã thiết kế và thi công cũng như có rất nhiều các nghiên cứu cho giải pháp này và được cụ thể hóa bằng các quy trình quy phạm như BS8006:1995 của Anh; EBGEO 2004 của Đức; chỉ dẫn thiết kế của quân đội Mỹ năm 1991; tiêu chuẩn JGJ/T 213 - 2010 của Trung Quốc. Ở Việt Nam hiện nay, bản dự thảo bổ sung, sửa đổi của 22TCN 262-2000 đã đề xuất tính toán thiết kế sử dụng các biện pháp gia cường đất, hay như TCXDVN 385:2006 “gia cố nền đất yếu bằng trụ đất xi măng”. Việc ứng dụng giải pháp gia cường nền đất yếu bằng cọc bê tông xi măng được các nước trên thế giới đã áp dụng khá rộng rãi và đạt được những kết quả tốt, tuy nhiên 21 ở Việt Nam công nghệ này mới chỉ áp dụng vào các công trình xây dựng dân dụng hay tại các vị trí sàn giảm tải của nền đường đắp đầu cầu.
Công trình xây dựng trên nền đất tự nhiên thường không đảm bảo ổn định, nên cần có giải pháp xử lý, qua đó hình thành nền đất nhân tạo đảm bảo công trình bên trên an toàn và sử dụng bình thường. Nền liên hợp là một khái niện mới được đưa ra và thường sử dụng cho đường cấp cao là nền đất tự nhiên trong quá trình xử lý bằng cách gia cường, thay thế hoặc thiết kế các vật liệu có cốt hình thành lên vùng gia cố thể hiện như hình vẽ số 1. NÒn ®-êng ®¾p NÒn ®-êng ®¾p L-íi gia c-êng L-íi gia c-êng Mò cäc Mò cäc Cäc th¼ng ®øng Cäc th¼ng ®øng §Êt tèt hoÆc ®¸ §Êt tèt hoÆc ®¸ (a) (b) Hình 1.9: Cấu tạo nền liên hợp sử dụng cọc cứng [22] Việc ứng dụng công nghệ gia cường đất yếu với mỗi loại công trình có các ứng xử khác nhau. Với công trình xây dựng dân dụng thì do đặc điểm tải trọng có tính chất tập trung, độ lún cho phép nhỏ nên việc xử lý nền chủ yếu thông qua hệ đài cọc truyền tải trọng xuống lớp đất tốt.
Cọc chịu toàn bộ tải trọng của công trình, còn nền đất bỏ qua không tham gia vào chịu tải. Còn đối với công trình đường do tải trọng phân bố trên bề rộng mặt đường theo dải dài, khối lượng nền rất lớn, nếu đơn thuần áp dụng giải pháp công nghệ gia cường nền bằng hệ cọc với nguyên lý cọc chịu tải 100% thì giá thành sẽ rất cao và không khả thi. Để giảm giá thành và đảm bảo tính khả thi cao, các nhà thiết kế đã tìm cách tăng hiệu quả của giải pháp bằng cách cho đất nền cùng tham gia chịu tải, cọc và nền đường cùng tham gia chịu lực, chính điều này đã tạo nên hướng nghiên cứu coi nền và hệ cọc cùng đồng thời làm việc.