Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CÁC TINH TIẾT GIAM NHE TNHS THUOC VE NHÂN THAN NGƯỜI PHAM TOI VA QUY ĐỊNH CUA BLHS MOT SO QUOC GIA 1. Khái niệm va đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội 1. Khái niệm các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc về nhân thân người phạm tội 1. Khái niệm “Tình tiết giảm nhẹ TNHS” Hiện tại trong khoa học luật của Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay, còn ton tại nhiều quan điểm của nhiều khác nhau về khái niệm tình tiết giảm nhẹ TNHS.
Cụ thể như: Theo Từ điển pháp luật hình sự, tình tiết giảm nhẹ TNHS là “Tình tiết ảnh hưởng đến mức độ TNHS của trường hợp phạm tội cụ thể theo hướng làm giảm xuống so với trường hợp bình thường”. Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Văn Cảm thì “Tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong Phần chung BLHS với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết do Tòa án tự xem xét, cân nhắc và được ghi rõ trong bản án (nếu trong vụ án hình sự không có tình tiết này), đồng thời là một trong những căn cứ dé cơ quan tư pháp hình sự có thâm quyền va Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn tô tụng hình sự tương ứng cá thé hóa TNHS và hình phạt của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt” [12, tr.17] Quan điểm của TS.Tran Thị Quang Vinh lai cho rằng “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết của vụ án hình sự, liên quan đến việc giải quyết TNHS, có ý nghĩa làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi 10 phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng và giá trị giảm nhẹ TNHS của chúng chưa được ghi nhận trong chế tai. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Trường Đại học Huế do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên có nêu: “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được cân nhắc khi quyết định hình phạt là những tình tiết khác nhau về tội phạm đã thực hiện, về thân nhân người phạm tội được quy định cụ thé trong luật hoặc không được quy định cụ thê trong luật nhưng được Tòa án cân nhắc với ý nghĩa làm giảm TNHS và hình phạt đối với người phạm tội” [22, tr. Nhu vậy, da số các quan điểm cho rang, tinh tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong phần chung của BLHS hoặc là tình tiết được ghi nhận trong văn bản quy phạm dưới luật hoặc được ghi rõ trong bản án do HĐXX áp dụng: các tình tiết này là căn cứ dé Tòa án cá thể hóa TNHS va hình phạt theo hướng giảm nhẹ đối với người phạm tội.
Về bản chất, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những biểu hiện về các điều kiện, hoàn cảnh, tình huống khách quan hoặc chủ quan có ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm, qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội và là cơ sở để người phạm tội có thê chịu TNHS ở mức thấp hơn. Đây là các tình tiết thể hiện quan điểm nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội. Theo Từ điển tiếng Việt, "Tình tiết" được hiểu là sự việc nhỏ trong quá trình diễn biến của sự kiện, tâm trạng [42, tr. Do vậy, các tình tiết giảm nhẹ TNHS có thể hiểu là những sự việc nhỏ trong một vụ án có ý nghĩa làm giảm mức độ TNHS và hình phạt của người phạm tdi.
Đối với “Giảm nhẹ TNHS" có thé được hiểu là việc miễn, làm giảm hậu quả pháp pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu. Tuy nhiên 11 trong từng vụ án cụ thể thì tình tiết đó có thể là tình tiết giảm nhẹ TNHS, định khung giảm nhẹ hoặc định tội giảm nhẹ. được quy định trong BLHS. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả chỉ nên hiểu “Các tình tiết giảm nhẹ TNHS” theo nghĩa là các tình tiết có vai trò làm giảm TNHS của người phạm tội một cách thuần túy.
Bởi vì các tình tiết giảm nhẹ đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt (khoản 3 Điều 51 BLHS 2015). Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, tình tiết giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nên có giá trị giảm bớt TNHS đối với người phạm tội. Các tình tiết này được quy định trong BLHS, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, án lệ hoặc có thé là những tình tiết giảm nhẹ do Tòa án (mà trực tiếp là HDXX) xem xét áp dụng đối với từng người phạm tội va được ghi rõ trong bản án. Các tình tiết giảm nhẹ này nhằm cá thể hóa TNHS và quyết định hình phạt, theo hướng nhẹ hơn so với trường hợp bình thường.
Từ những nghiên cứu trên, tác giả đưa ra khái niệm tình tiết giảm nhẹ TNHS như sau: “Tình tiết giảm nhẹ TNHS là tình tiết được quy định trong BLHS, văn bản hướng dan áp dụng pháp luật, án lệ hoặc được Toà án ghi nhận trong bản án dé cá thể hóa TNHS va quyết định hình phạt đối với người bị kết tội theo hướng nhẹ hơn so với trường hợp bình thưởng. Khái niệm nhân thân người phạm tội Nhân thân người phạm tội là khái nệm được đề cập khá nhiều trong khoa học luật hình sự. Ngoài tư cách là một trong những căn cứ dé quyét dinh hình phạt, nhân thân người phạm tội con là một trong những can cứ khi phân loại tình tiết giảm nhẹ TNHS của người phạm tội. 12 Theo Các Mác, thực chất của nhân thân "Không phải ở bộ râu, ở dòng máu, ở các thé chất trừu tượng của nó, ma là ở tính chất xã hội của nó".
Các Mác cũng cho rằng: "Bản chất của con người không phải cái gì trừu tượng, sẵn có trong từng cá nhân riêng biệt. Bản chất của con người thực tế là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" [4, tr. Như vậy, hiểu theo quan điểm chung của xã hội học Mác thì "Nhân thân" đó là bản chất xã hội của con người được thê hiện thông qua vị trí của con người trong hệ thống quan hệ xã hội. Nhân thân là một phạm trù mang tính xã hội - lịch sử.
Mỗi cá nhân cụ thé sẽ có một nhân thân tương ứng hoàn toàn khác biệt; có người thì tích cực thúc đây sự tiến bộ của xã hội, số khác lại cản trở nó. Nhân thân con người là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu sinh học, nhân khâu học, các đặc điểm xã hội học, đạo đức - tâm lý. Cách tiếp cận Mác xít với vấn đề nhân thân đòi hỏi cần phải quan tâm đến các giá trị xã hội, người xung quanh, gia đình bố, mẹ, vo chồng, con cái, anh em, tài sản, lao động, các nghĩa vụ công dân wv. Nội dung của các mối quan hệ sâu sắc va ồn định sẽ hình thành quan điểm, lý tưởng, lập trường, quan niệm đạo đức của con người.
Cách xử sự của con người trong xã hội - mà nhân thân thé hiện ra bên ngoài cũng gắn liền với lĩnh vực trí tuệ, cảm xúc và ý chí của nhân thân. [35, 40] Như vậy nhân thân của con người là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu, mối quan hệ xã hội của mỗi con người cụ thể, bao gồm: Các đặc điểm, dau hiệu về xã hội, nhân khâu học như giới tính, tuổi, trình độ văn hoá, địa vị xã hội, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, nơi sinh sống, hoàn cảnh kinh tế; các đặc điểm, dấu hiệu về tâm lý như quan điểm, nhu cầu, sở thích, thói quen lý trí, ý chí, xúc cảm, tình cảm.và các đặc điểm, dấu hiệu, mối quan hệ xã hội khác. Từ khái niệm nhân thân của con người nói chung, có thé hiểu nhân thân người phạm tội là “Tổng hợp những đặc điểm riêng về xã hội hoặc có ý 13 nghĩa về mặt xã hội của người phạm tội” [14, tr183-184]. Những đặc điểm nhân thân đó có thé là: Tuổi, giới tính, nghề nghiệp, có án tích, trình độ văn hóa, hệ thống thái độ.
Nói một cách dễ hiểu hơn, “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt nói lên tính chất của một con người” [51, tr. Nhân thân người phạm tội là một khái niệm rộng, có nội hàm lớn, thể hiện bản chất xã hội của con người, phản ánh một tổng thể các dấu hiệu, các đặc tính, các mối quan hệ đặc trưng cho con người. Nhân thân người phạm tội có thê ké đến một số dạng như: nghề nghiệp, lý lịch tư pháp, ý thức pháp luật, hoản cảnh gia đình. Nhân thân người phạm tội bao gồm tat cả các dau hiệu về chủ thé của tội phạm thông thường (độ tuổi và năng lực TNHS) và cả dấu hiệu của chủ thê đặc biệt (giới tình, chức vụ, quân nhân.
Ngoài ra khái niệm nhân thân người phạm tội còn có các đặc điểm không thuộc dấu hiệu pháp lý của khái niệm chủ thê của tội phạm. Ví dụ như dau hiệu thé hiện vi tri vai trò xã hội của người phạm tội, thái độ của họ đối với các giá trị xã hội đang ton tại và đối với chính bản thân mình. Khi nghiên cứu về nhân thân người phạm tội có một vấn đề rất quan trọng đó là mối quan hệ giữa đặc điểm xã hội và đặc điểm sinh học. Các đặc điểm sinh học, các quan hệ tâm lý có ảnh hưởng đến quá trình nhận thức nên việc đi sâu nghiên cứu các đặc điểm sinh học rất quan trọng trong việc xác định những đặc điểm tâm lý tiêu cực, các điều kiện thúc đây người đó phạm ti.
Nhân thân người phạm tội bao gồm cả mặt tốt và mặt xấu. Trong một sé trường hợp có một số đặc điểm về nhân than người phạm tội đã được quy định là yếu tố loại trừ TNHS, miễn hình phạt, định tội, định khung hình phạt hoặc quy định là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS. 14 Dưới góc độ tội phạm học và luật hình sự thì cấu trúc nhân thân người phạm tội được chia thành 3 nhóm sau: Nhóm các đặc điểm, dấu hiệu về nhân khẩu học - xã hội; nhóm các đặc điểm, dấu hiệu theo pháp lý - hình sự; nhóm các đặc điểm, dấu hiệu về đạo đức - tâm lý. Trong số đó, nhóm quan trọng được lấy làm cơ sở của các tình tiết giảm nhẹ đó là nhóm nhân khẩu học - xã hội.