Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái niệm chung về thẩm quyền Ở thời kỳ cổ đại, với quan niệm ấu trĩ về tính tất yếu của sự bất bình đẳng giữa các giai cấp trong xã hội về quyền thống trị tối cao tuyệt đối của giai cấp thống trị đối với giai cấp nô lệ và dân thường, giải thích nguồn gốc sức mạnh của quyền lực bằng hào quang thiêng liêng của Thượng đế. Quyền lực của vua chúa không bị hạn chế.
Khắp nơi thịnh hành học thuyết "Đặc miễn quốc gia", theo đó Nhà nước làm ra pháp luật thì phải đứng trên pháp luật. Mặc dù với điều kiện sống và nhận thức còn nhiều hạn chế, song một số nhà tư tưởng đã nhận thức được tình trạng lạm quyền một cách tùy tiện, thái quá của giai cấp thống trị, họ đã có những ý niệm mơ hồ về mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật. Họ mơ ước có một xã hội công bằng, dân chủ, không có bóc lột. Chính những mơ ước đó đã đặt nền móng cho các nhà tư tưởng hình thành dần một học thuyết về Nhà nước pháp quyền, mong muốn loại bỏ Nhà nước chuyên quyền, độc đoán [19, tr.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khi xây dựng học thuyết của mình về Nhà nước kiểu mới đã kế thừa những tư tưởng trước đó kết hợp với tình hình đấu tranh thực tế để đưa ra quan điểm "Quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân". Nhân dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền làm những việc pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhân dân thực hiện quyền lực thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội. Quốc hội có quyền lập hiến và lập pháp.
Quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, là cơ quan chấp hành và hành chính cao nhất 19 z của quyền lực nhà nước. Quyền tư pháp do Tòa án và Viện kiểm sát thực hiện. Hoạt động của ba hệ thống cơ quan này đều thống nhất, nhân danh Nhà nước, nhằm mục tiêu chung phục vụ lợi ích của dân tộc. Mỗi cơ quan nhà nước có những quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau do luật định.
Việc phân công quyền lực giúp cho việc giải quyết công việc không bị chồng chéo và hoạt động của các cơ quan được vận hành một cách hợp lý. Phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước do luật định được hiểu là thẩm quyền của các cơ quan nhà nước. Theo Từ điển tiếng Việt thì thẩm quyền là "Quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề theo pháp luật" [54, tr. Theo định nghĩa của Từ điển Luật học thì thẩm quyền được hiểu là quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề.
Thuật ngữ về thẩm quyền của Việt Nam xét về nghĩa nói chung giống với nghĩa trong tiếng nước ngoài, nhưng cách sử dụng thuật ngữ có nhiều điểm khác biệt nhất định. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau về thẩm quyền, tuy nhiên, tựu trung lại đều được hiểu "Thẩm quyền" là khả năng của chủ thể trong việc xem xét và giải quyết hay định đoạt một công việc nào đó trên cơ sở chuẩn mực pháp luật đã định trước. Tóm lại, dưới góc độ khoa học, theo chúng tôi khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Thẩm quyền là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định cho một chủ thể nhất định được thực hiện công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định. Khái niệm thẩm quyền xét xử Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thẩm quyền xét xử, theo Từ điển Luật học thì: Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án.
Các Tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử. Mọi bản án do Tòa án tuyên 20 z đều phải thông qua xét xử. Không ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các Tòa án và kết quả xét xử phải được công bố công khai bằng bản án. Thẩm quyền xét xử của Tòa án là một quyền chuyên biệt được trao riêng cho Tòa án, khác với thẩm quyền của các cơ quan khác, thẩm quyền xét xử là quyền chính thức của Tòa án, không phân biệt phân cấp, phân vùng lãnh thổ [53, tr.
Trong khi đó, theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng thì "Xét xử là hoạt động của Tòa án tại phiên tòa để xét xử các chứng cứ và căn cứ vào pháp luật, xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định của Tòa án" [18, tr. Xét riêng trong pháp luật tố tụng hình sự, thẩm quyền của Tòa án các cấp là một chế định quan trọng. Thẩm quyền càng được phân định rõ ràng, khoa học, sát với thực tế bao nhiêu càng bảo đảm cho việc xét xử khách quan, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật bấy nhiêu. Chính vì thế, trong quá trình hoàn thiện pháp luật nước ta nói chung và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nói riêng, các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp luôn được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi ban hành.
BLTTHS của nước ta đã ra đời khá sớm, qua nhiều lần sửa đổi, các quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án tương đối đầy đủ. Tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định: "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" [30]. Quyền xét xử thuộc về Tòa án được hiểu là thẩm quyền xét xử. So sánh với một số thuật ngữ nước ngoài tương đương, thuật ngữ thẩm quyền xét xử được sử dụng trong tiếng Việt cũng có nhiều điểm tương đồng và khác biệt nhất định.
Trong Từ điển Luật của Anh, người ta dùng thuật ngữ Jurisdiction để chỉ thẩm quyền hoặc quyền tài phán, tức là quyền 21 z lắng nghe và phán quyết một vụ việc nào đó của Tòa án. Trong Từ điển Luật học của Mỹ, thẩm quyền được hiểu là khả năng cơ bản và tối thiểu để cơ quan công quyền xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật. Điểm chung về thẩm quyền của Tòa án đều được các nước thừa nhận là quyền xem xét giải quyết các vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và quyền hạn trong việc ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó. Quyền xem xét giải quyết vụ việc và quyền ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó là hai nội dung quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành thẩm quyền của Tòa án.
Việc kết tội một công dân có ảnh hưởng rất lớn đến đến danh dự, nhân quyền, tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do vậy, Tòa án được quy định là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự và Tòa án cũng là cơ quan duy nhất có quyền thay mặt Nhà nước tuyên bố một người có tội hay không có tội và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Điều 9 BLTTHS năm 2003 quy định: "Không ai bị coi là có tội cũng như phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật" [28]. Việc xét xử của Tòa án hoàn toàn khác biệt với biện pháp xử lý của cơ quan hành chính, bởi lẽ: Hoạt động xét xử được áp dụng những chế tài, kể cả hình phạt và việc xét xử được tiến hành theo những thủ tục chặt chẽ được quy định trong pháp luật tố tụng.
Do vậy, hiệu lực các phán quyết của Tòa án cũng cao hơn các biện pháp xử lý hành chính khác. Khi xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án, cần phải xác định đồng thời ba nhóm dấu hiệu là: Những dấu hiệu thể hiện tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm hoặc vụ án; những dấu hiệu về không gian, thời gian thực hiện tội phạm; những dấu hiệu liên quan đến đối tượng phạm tội. Chỉ trên cơ sở xem xét đầy đủ cả ba nhóm dấu hiệu nêu trên mới có thể xác định thẩm quyền xét xử được chính xác. 22 z Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về thẩm quyền xét xử của Tòa án như sau: Thẩm quyền xét xử của Tòa án là tổng hợp các quyền theo quy định của pháp luật để Tòa án giải quyết các tranh chấp trong xã hội thông qua việc xem xét, đánh giá, phán quyết có tính cưỡng chế của Nhà nước.
Và thẩm quyền xét xử về hình sự là: Quyền của Tòa án được xét xử vụ án hình sự do pháp luật tố tụng hình sự quy định dựa trên cơ sở dấu hiệu về tính nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, tính phức tạp của vụ án, địa điểm xảy ra tội phạm và đặc điểm nhân thân người phạm tội. Trong phạm vi luận văn, tôi chỉ xin đề cập đến thẩm quyền xét xử về hình sự của các cấp TAND. CĂN CỨ PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN ĐỐI VỚI TÒA ÁN NHÂN DÂN Nếu quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp không phù hợp sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực như: Chất lượng hiệu quả hoạt động tư pháp hình sự bị hạn chế; tình trạng quá tải tại cấp xét xử nào đó khiến án bị tồn đọng; chi phí cho hoạt động tư pháp cao; vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân. Song, muốn quy định thẩm quyền được chính xác phải dựa vào những căn cứ vừa mang tính khoa học vừa bảo đảm yếu tố thực tiễn.
Các căn cứ càng cụ thể, chi tiết thì quy định thẩm quyền càng chính xác. Việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn lập pháp cho thấy, hầu hết các ý kiến tập trung vào việc căn cứ trình độ năng lực của Thẩm phán, số lượng án hàng năm ở các cấp để đề nghị phân định thẩm quyền. Nhìn chung, các quan điểm đều có nhiều yếu tố hợp lý. Song mỗi quan điểm lại có những hạn chế nhất định, vẫn còn đề cập đến vấn đề căn cứ phân định thẩm quyền một cách đơn giản và phiến diện.
Cần thiết phải có sự đầu tư nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để kịp thời điều chỉnh các quy định về thẩm quyền cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội.