Chương 1 NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Khái niệm lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản và ý nghĩa của việc quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự 1.1 Khái niệm Tham nhũng là vấn nạn chung của tất cả các quốc gia, ở tất cả các Nhà nước và thời kỳ lịch sử - khi chế độ tư hữu xuất hiện và Nhà nước ra đời. Theo các tài liệu truyền thông của Liên hợp quốc về đấu tranh quốc tế chống tham nhũng thì tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng bao gồm những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, trộm cắp tài sản của Nhà nước; lợi dụng địa vị công tác để trục lợi riêng hoặc thông qua việc sử dụng không chính thức địa vị chính thức của mình; hay tạo ra xung đột về thứ tự quan tâm giữa trách nhiệm đối với xã hội và lợi ích cá nhân để mưu cầu trục lợi. Theo Điều 19 Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng thì lạm dụng chức năng được hiểu là “ …tội phạm khi được thực hiện một cách cố ý, hành vi vi phạm pháp luật, hành động hoặc không hành động, của một công chức lạm dụng chức năng hay vị trí của mình, khi thi hành công vụ nhằm mục đích đạt được một lợi ích không chính đáng cho bản thân, cho người hay tổ chức khác” [22].
Để hiểu rõ khái niệm về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trước hết cần phải làm rõ các thuật ngữ: “lạm dụng”,“chức vụ”,“quyền hạn”. Thuật ngữ “lạm dụng” theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định; “Chức vụ” là nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng với chức, việc trong chức phận mình phải làm; Còn “Quyền hạn” là giới hạn của quyền lực hoặc của quyền lợi hay quyền được xác định trong phạm vi cho phép [21]. 8 z Như vậy, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được hiểu là một người nào đó đã sử dụng vượt quá nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi chức phận mình phải làm để chiếm đoạt tài sản. Hành vi khách quan của tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản mà người có chức vụ, quyền hạn đã sử dụng quá quyền năng, vị trí, vai trò của mình đối với chức vụ, quyền hạn mà họ được phân công và hành vi chiếm đoạt là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản từ chủ sở hữu thành tài sản của mình hoặc của cơ quan, tổ chức hoặc người khác.
Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được coi là tội phạm theo quy định tại Điều 355 mục A chương XXIII BLHS 2015. Vì vậy, cần phải hiểu thêm thuật ngữ “tội phạm” là gì và thế nào là các tội phạm về chức vụ để từ đó đưa ra được một khái niệm đầy đủ về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là như thế nào.“Tội phạm” theo từ điển tiếng việt được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật [20,tr. Tại BLHS nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2015 đã khái niệm tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [33, Điều 8]. Định nghĩa này chính là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS và cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể.
Từ định nghĩa đầy đủ này, có thể định 9 z nghĩa tội phạm một cách khái quát như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái PLHS và phải chịu hình phạt [42, tr. Theo Điều 352 BLHS 2015 thì khái niệm tội phạm về chức vụ được hiểu là: Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ [33]. Người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn. Nếu người phạm tội không có chức vụ mà họ đang đảm nhiệm thì họ khó có thể thực hiện được hành vi phạm tội.
Kết hợp các thuật ngữ nêu trên và căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành có thể xây dựng khái niệm “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn, chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 355 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như sau: Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi trái pháp luật hình sự của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi mà đã sử dụng quá giới hạn chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản của người khác. Ý nghĩa Tham nhũng có thể gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về mặt chính trị, tham nhũng là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; Về kinh tế thì tham nhũng gây ra những thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước, tập thể và của công dân; còn về mặt xã hội thì tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Việc quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong chương các tội phạm về chức vụ trong luật Hình sự có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng và khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong phòng, chống tham nhũng nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe doạ sự 10 z sống còn của chế độ chính trị cũng như góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
Từ những quy định trong luật và các văn bản có liên quan, các cơ quan hành pháp và tư pháp đã tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Việc quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự còn là căn cứ để xây dựng hệ thống các văn bản hướng dẫn khác trong phòng chống tội phạm tham nhũng, đồng thời đây cũng là minh chứng về mặt thể chế trong triển khai thực hiện Kế hoạch thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao uy tín, vị thế chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế. Từ quy định cụ thể về chủ thể và khách thể của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản cũng như mức hình phạt được áp dụng là căn cứ để ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện luật như: Nghị quyết, thông tư, nghị định…. Việc quy định trong luật và các văn bản có liên quan giúp các cơ quan hành pháp và tư pháp đã tiến hành hoạt động thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản đúng người đúng pháp luật.
Vì vậy, quy định về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự - đạo luật có vị trí và ý nghĩa đặc biệt trong hệ thống pháp luật và trong đời sống xã hội, cần tích cực củng cố kiện toàn hệ thống luật pháp nhằm đảm bảo tính thực tiễn và hiệu quả của pháp luật nói chung và hệ thống luật pháp đối với tội danh tham nhũng nói riêng. Đây là nhân tố quyết định cơ bản dẫn tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng hiện nay. Quy định lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 2015 1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945 nhận thức được để xây dựng được một chính quyền trong sạch, vững mạnh và củng cố nền độc lập vừa giành được thì cần phải chú trọng vào việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tập thể và công dân, bảo đảm cho các cơ quan nhà nước hoạt động đúng đắn đồng thời đảm bảo uy tín của cán bộ, công chức Nhà nước, cơ quan Nhà nước và chống tội phạm trong lĩnh vực này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự về các tội phạm chức vụ. Khác với tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là tội phạm không được Nhà nước ta quy định sớm mà tội phạm này lần đầu tiên được quy định cụ thể tại Pháp lệnh số 150/LCT ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân với tội danh là: “Tội lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân” (Điều 8).
Kẻ nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm. Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Có tổ chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c) Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm”. Trong quy định tại Pháp lệnh này thì tội lạm dụng, chức vụ không đưa định lượng cụ thể giá trị tài sản phạm tội mà chỉ quy định chung là chiếm đoạt tài sản.