CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐỊNH NGHĨA THỪA CÀN VÀ BÉO PHÌ Thừa cân là tình trạng càn nặng vượt quá cân nặng "nên có" so với chiều cao. Còn béo phì là tình trạng lích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thổ tới mức ánh hường xấu đến sức khoc I 12] [36]. Một cách đơn giản có thể định nghía béo phì là tình tr ạng tích luỹ thái quá và không bình thường của lipit trong các tổ chức mỡ tới mức có ảnh h ưởng x ấu đ ến s ức khoẻ.
PHÂN LOẠI THỪA CÂN VÀ BÉO PHÌ : Hầu hết béo phì không liên quan tới nội tiết. Béo phì không có nguyên nhân bệnh học rõ ràng được gọi là béo phì đơn thuần hay béo phì ngoại sinh - liên quan chú yếu đến án uống, do lăng năng lượng ăn vào và giám năng lượng tiêu hao. Béo phì có kèm theo bệnh tật gọi là béo phì bệnh lý. Phân loại héo phì theo hình thái của mô mỡ : - Béo phì do tăng sân quá mức sô lượng tế bào mỡ mà kích thước tê bào mỡ vẫn bình thường.
Loại béo phì liên quan đến tăng số lượng tê' bào mỡ thường đề kháng với điều trị. - Có thể phì dại tế bào mỡ mà số lượng tê bào không tăng hoặc chỉ tăng khi tế bào mỡ đã phình to hết mức ( hay phì dại tế bào mỡ ). Hầu hết béo phì đều có lăng kích thước tê bào mỡ, nhưng chỉ có dạng béo phì bắt dầu từ nhỏ và dai dẳng là có lãng cá kích thước và số lượng tế bào mỡ. Dạng béo phì này 5 thường là béo nặng và sẽ sớm phái triển những bất thường trong cuộc sốngl 28|.
Phân loại héo phì theo phán vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu học : - Béo bụng- Béo trung tâm ( béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông - Android ): Là dạng béo có mõ tập trung chú yếu ở vùng bụng. - Béo đùi ( béo vùng thấp, béo hình quâ lê, béo kiểu đàn bà - Gynoid) : Là dạng béo phì có mỡ tập trung chủ yếu ứ vùng mông và vùng đùi. Phân loại này giúp ta tiên đoán nguy cơ sức khoé của béo phì. Bếo bụng có nguy cơ cao của mắc và tư vong do các bệnh tim mạch, cao huyết áp, tiểu đường so với béo phì phần thấp ị 171.
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THỪA CÂN VÀ BÉO PHÌ : 1. Thành phần cơ thê : Theo sự phân chia của các nhà dinh dưỡng học, cơ thể bao gồm 2 thành phần là khối nạc và khối mỡ. Nước trong cơ thê lập trung chủ yếu ở thành phần của mô nạc. Mô mờ bao gồm những tế bào mỡ và có thê chứa đẩy các triglyxerid.
Khối mỡ thể hiện độ gầy béo, còn khối nạc giúp đánh giá thể lực của một người. Mỡ trong cơ thể gồm mỡ thiết yêìi và không thiết yếu. Mỡ thiết yếu là mỡ trong hệ thống thần kinh, tuỷ xương, màng tế bào và cơ quan sinh dục nữ. Mỡ không thiết yếu ( mỡ dự trữ ) bao gồm mõ' dưới da, mỡ trong và sau phúc mạc, quanh tim và trong cơ.
ơ người bình thường, mỡ thiết yêu tương đối hằng định, còn mỡ d ự trữ thay d ổi nhi ều nhất. Tỷ lệ khôi mỡ trung bình ó' nam trướng thành từ 7 đến 14% và nữ từ 18 đến 25% I 9II 161. Các phương pháp đánh giá thừa cân và béơ phì : Béo phì là sự dư thùa toàn bộ mỡ cơ thê hay thừa mỡ dự trữ trong cơ thể. Đánh giá mỡ cơ thê toàn bộ xuất phát từ đánh giá thành phán cơ thể.
Các 6 nhà sinh lý học, dinh dưỡng học, trên 4 thập kỷ qua đã đánh giá thành phần cơ thể bằng các phương pháp như dơ tỷ trọng cơ thể trong nước, đếm K40, đo nồng độ nước toàn cơ thể, đo độ khuyếch tán các chất khí hoà tan trong chất béo, do sự dào thái các chất chuyên hoá của tổ chức cơ, và gần dây nhất do kháng trở điện sinh học của cơ thể I 28 n 29|. Giới hạn trên của tỷ lệ mỡ cơ the bình thường là 19% đối với nam và 22% đối với nữ. Tuy nhiên, một vài nghiên cứu cho thấy giá trị này cao hơn cả người không béo phì [ 28]. Phương pháp đo tỷ trọng cơ thế - được nhiều tác giá tin cậy nhưng mất thời gian và tốn kém.
Tuy nhiên việc đo tý trọng - một cơ sở để có thể ước tính % mỡ cơ thể - cũng có thể được suy ra từ phương pháp nhân trắc BDLMDD I 3311 34]. Dựa trên một số phương trình tuyến tính, việc ước tính tổng lượng mỡ cơ thể có thể được lính từ việc đo BDLMDD tại I đến 12 vị trí khác nhau. Mỡ dưới da xấp xỉ 50% tổng lượng mở toàn bộ cơ thể. Phân bố mỡ dưới da thay dổi theo tuổi, giới, chúng tộc và lình trạng dinh dưỡng.
Đo BDLMDD là một phương pháp nhanh, không đắt và khá chính xác. Nếu đo BDLMDD lại một điểm để đánh giá mỡ toàn bộ cơ thê hay % mỡ cơ thể thì việc chọn vị trí đại điện nhất chơ tất cá lớp mỡ dưới da là rất quan trọng. Vì mỡ dưới da phàn bố không đồng đều khắp cơ the nên vị trí dại diện nhất không giống nhau theo tuổi, giói và chúng tộc. Nhìn chung, người la nhân thấy BDLMDD cơ tam dầu là vị trí ước đoán tốt nhất cho mỡ cơ thể trẻ em và người trướng thành.
Nếu đo BDLMDD tại nhiêu điểm để đánh giá mỡ, các nhà điều tra khuyên nên lây ít nhất một BDLMDD chi (cơ lam dầu trái) và một BDLMDD thân ( cơ sau vai trái) để tính sự phân bô' khác nhau của mỡ dưới da. Mỡ dưới da vào khoảng 1 1 % cân nặng cơ thê ờ nam giới và 18% cân nặng cơ thể ở nữ giới ị 351. Ngoài ra, ý nghĩa sức khoẻ cùa béo phì còn liên quan đến phân bô’ mỡ, đặc biệt ở người trướng thành. Có nhiều nghiên cứu báo cáo về tầm quan trọng 7 của béo bụng và béo bụng dược xem như là một nguy cơ cứa bệnh tim mạch hơn là toàn bộ khối mỡ của cơ thể| 261.
Để đo trực tiếp khối mỡ ớ bụng có nhiều kỹ thuật như chụp X quang vi tính, cộng hưởng lừ. Tuy nhiên các phương pháp này khó thực hiện và tôn kém, không có tính khả thi. Tỷ sô vòng thắt lưng / vòng mông ( VTL/ VM) và vòng thắt lưng ( VTL) có giá trị đê đánh giá độ béo phì ở bụng. Tý sô VTL/VM ( trên 1 ớ nam và 0,85 ở nữ ) được sir dụng đê xác định các dối tượng béo bụng.
Người ta còn thấy VTL - thường không liên quan đến chiều cao - có liên qua chặt chẽ với chỉ sô BMI và tỷ số VTL/VM , do đó thường được coi như là chỉ tiêu đon gián để đánh giá khôi lượng mỡ bụng và mỡ toàn bộ cơ thể. Hiên chưa có các” ngưởng “ qui ước dối với vòng thắt lưng. Người la thấy các nguy cơ tăng lên khi vòng thắi lưng >94 cm đối với nam, >80 cm đối với nữ và tàng lên rõ khi các trị sô tương ứng là>102 cm và > 88cm I IO|| 38]. Tỷ lệ % mỡ cơ thổ : Sứ dụng cân Tanita TBF 51 I là máy phàn tích tỷ lệ mỡ cơ thể bằng kỹ thuật đo kháng trờ điện sinh học ( BIA’ Bioelectrical Impedance Analysis ).
Máy tạo ra một dòng diện rất thấp xuyên qua cơ thể khi đo. Máy được phát triển từ " phương pháp do trọng lượng dưới nước " dùng đo cho các đối lượng trong độ tuổi lù' 7-70. Xác định béo phì khi tỷ lệ mỡ cơ thể > 30% ở nữ và > 20% ở nam I 29Ị. Ớ người trướng thành có một mối tương quan giữa khối mỡ và càn nặng của cơ the.
Béo phì khôi mỡ lăng lên và cân nặng cơ thể cũng lãng lên. Tuy nhiên cân nặng còn phụ thuộc chiều cao mỗi người. Đê’ loại bó ánh hưởng của vóc người so với trọng lượng cơ thể, phương pháp đánh giá thông dụng nhất hiện nay đánh giá mức độ béo phì là dùng chí số khôi cơ thế ( Body Mass Index) Ị 1111 301. TÌNH HÌNH THỪA CÂN VÀ BÉO PHÌ Ở NGƯỜI TRƯỚNG THÀNH HIỆN NAY: Thừa cân và béo phì đang nổi lên nhu' là một vấn đề sức khỏe cộng đồng hàng đầu ở các nước đã và đang phát triển.
Năm 2000 , Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xuất ban báo cáo kỹ thuật " Béo phì : Dự phòng và xứ trí một dịch toàn cầu " Thừa cân và béo phì - cơn dịch thế ký, đó là lời cánh báo của tổ chức Y tế thế giới tại một cuộc họp ở Pháp năm 1997. Tình trạng béo phì hiện nay đang tăng lên vói một lốc độ dáng lơ ngại không chi phổ biến ớ các nước phát triển mà còn gia tăng ở cả những nước mà tình trạng suy dinh dưỡng vẩn còn phổ biến (21 ].ở người trường thành, ty lệ béo phì là 10-25% ớ hầu hết các nước Tây Âu, 20-25% ở một số nước châu Mỹ, có tới 40% ở một số nước Đông Âu và trên 50% ó' một số nước Tây Thái Bình Dương ị 37 j. Ở các nước đang trong thời kỳ dinh dưỡng chuyển tiếp, khi nền kinh té phát triển, tỷ lệ người béo cũng tăng lên cùng với tỷ lệ người gầy giám dấn. ở giai doạn dầu , tỷ lệ béo tăng ở tầng lóp khá gia trong xã hội với BM1 trung bình cao sau đó tỷ lệ béo tăng dần ờ tầng lớp thu nhập thấp 112].
Thừa cân và béo phì trỏ' thành vấn đề sức khoe cộng đồng ờ nước ta mới chỉ những năm gần đày. Các cuộc điều tra dịch tễ học diện rộng cho thây trước năm 1995, tỷ lệ thừa cân không dáng kể, béo phì hầu như không có. Tỷ lệ thừa cân ( BMI > 25) ó người Việt Nam trướng thành Năm Vùng đô thị Nông thôn 1985 0,4 0 1990 1,5 0 1995 - 1,5 2000(bà mẹ có con<5tuổi) 5,4 1,7 9 Tại Hà Nội, nghiên cứu của Trần Đình Toán (năm 1994) ớ một phường nội thành thấy lý lệ thừa cân và béo phì của nam là 3,3% và của nữ là 7,8%| 21J. Nghiên cứu của Đỗ Kim Liên năm 1997 lại hai phường nội thành ở đối tượng 50-59 tuổi thấy tỷ lệ thừa cân và béo phì là 15,5%.
Theo kết quả của Doãn Thị Tường Vi năm 2001, tỷ lệ béo phì ở cán bộ chiến sĩ công an là 15%.