ĐẶT VẤN ĐỀ Vấn đề già hóa tại Việt Nam đang đặt ra thách thức lớn khi tốc độ già hóa nhanh trong bối cảnh nước ta vẫn là một quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp (1). Kết quả một cuộc điều tra cho thấy các các bệnh mãn tính đang có xu hướng tăng cao ở người cao tuổi, cụ thể như tăng huyết áp với tỉ lệ mắc khoảng 46%, bệnh khớp chiếm khoảng 34%. Ngoài ra, các bệnh về răng hàm mặt, tim mạch, các bệnh lý về phổi c ng trở nên phổ biến ở NCT với tỷ lệ mắc khoảng 2 % (2). Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra những yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe của NCT.
Trong đó, có các yếu tố về gia đình như sự quan tâm của người thân (3), chăm sóc con cháu, chắt để con cháu (4) còn có các yếu tố thuộc về cá nhân như tuổi (4-7); giới (6, 8-10); tình trạng hôn nhân (4); trình độ học vấn (7, 10, 11); nghề nghiệp (4) (12); hoàn cảnh kinh tế (4, 5, 7, 10, 13, 14). Bên cạnh đó, nhiều tác giả c ng chỉ ra mối liên quan giữa các yếu tố hành vi như hút thuốc lá (15-20); Lạm dụng đồ uống có cồn (21, 22); Vận động thể chất (23); Chế độ ăn uống (24, 25) (26, 27); hoạt động xã hội và tâm linh (28). Các nghiên cứu đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc đưa ra các bằng chứng khoa học trong can thiệp nâng cao sức khỏe NCT. Tuy nhiên, ít nhiều các công trình vẫn còn một số hạn chế nhất định, nhiều yếu tố liên quan này được xác định trong các nghiên cứu cách đây trên 5 năm, trong khi hiện nay đã có nhiều chính sách mới dành cho NCT tuổi, chất lượng hệ thống y tế được cải thiện, nhiều chương trình can thiệp đã triển khai c ng như điều kiện kinh tế xã hội của các địa phương c ng thay đổi.
Huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang là huyện có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, huyện có 6 6 xã được Chính phủ công nhận là xã đảo. Đặc thù của địa phương là dân trí thấp, hệ thống y tế còn nhiều hạn chế. Người cao tuổi ít quan tâm đến việc phòng bệnh và không tự giác khám sức khỏe định kỳ. Dù được mi n phí toàn bộ nhưng tỉ lệ người t 8 tuổi trở lên đến điểm khám sức khỏe định kỳ do ngành y tế tổ chức khá thấp, năm 2 18 là 56% và năm 2 19 là 64% (29), trong khi tỉ lệ này của toàn tỉnh Tiền Giang trong hai năm qua lần lượt là 80,7%% 2 và 85,6% (30, 31).
Đồng thời, các số liệu thống kê về tình hình sức khỏe và bệnh tật của NCT tại địa phương còn thiếu và độ tin cậy thấp, chưa có một cuộc điều tra nào về sức khoẻ NCT được thực hiện trong phạm vi tỉnh Tiền Giang nói chung và huyện Tân Phú Đông nói riêng, để làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách, kế hoạch chăm lo sức khỏe cho NCT ở địa bàn huyện Tân Phú Đông. Khi không đủ điều kiện, nguồn lực để thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho tất cả NCT thì việc đo lường và đánh giá sức khỏe qua phỏng vấn lại cho cung cấp thông tin về tình hình sức khoẻ của NCT, t đó giúp các đơn vị liên quan hoạch định chính sách và quyết định trong việc áp dụng các giải pháp hiệu quả, dựa trên bằng chứng khoa học. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (hay còn gọi là tình trạng sức khỏe tự đánh giá) là chất lượng cảm nhận về tình trạng sức khỏe và cuộc sống hàng ngày của một cá nhân, về sức khỏe thể chất, và tinh thần. Khái niệm này đại diện cho một chỉ số rất hữu ích về sức khỏe tổng thể, nắm bắt thông tin chi tiết về cả tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần của các đối tượng và về tác động của chúng đối với chất lượng cuộc sống.
Với mong muốn trả lời câu hỏi “tình hình sức khỏe c a NCT tại hiện Tân Phú Đông hiện tại ra sao? Đâu à những y u tố iên quan đ n sức khỏe và bệnh tật c a họ?, học viên thực hiện Đề tài: “Tình trạng sức khỏe dựa trên công cụ SF-36 và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang năm 2020”, trên cơ sở đánh giá tình trạng sức khỏe tổng thể qua phỏng vấn. Kết quả của nghiên cứu sẽ được ứng dụng trong xây dựng các giải pháp phù hợp cho công tác chăm sóc sức khỏe NCT tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang trong thời gian tới. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả tình trạng sức khỏe của người cao tuổi dựa trên bộ công cụ SF-36 tại huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang năm 2 2.
Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe của người cao tuổi huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang năm 2 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Người cao tuổi Theo tổ chức Liên Hợp Quốc, mốc 6 tuổi để chỉ người cao tuổi, còn ở các nước phát triển, người 65 tuổi được coi là người cao tuổi và có thể nhận an sinh xã hội cho NCT (32); Đối với các tổ chức quốc tế, Quỹ dân số Liên Hợp quốc (UNPFA), trong Báo cáo tóm tắt “Già hóa trong thế kỉ 21: Thành tựu và thách thức” công bố năm 2 12 hàm ý NCT là những người có độ tuổi t 6 trở lên (33). Tại Việt Nam, Điều 2 trong Luật Người cao tuổi số 39 2 9 QH12, người cao tuổi ở Việt Nam là “Công dân Việt Nam t đủ 6 tuổi trở lên”(34).
Sức khỏe Sức khỏe, lâu nay vẫn được xem như là trình trạng không có bệnh tật, đau yếu. Tuy nhiên, tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 định nghĩa sức khỏe là một tình trạng khoẻ mạnh một cách hoàn toàn cả về yếu tố thể chất, yếu tố tinh thần và xã hội, không chỉ là sự vắng mặt của bệnh tật (35). Sức khỏe là nguồn lực giá trị giúp cho con người làm chủ bản thân mình, xã hội và đời sống kinh tế, cho họ sự tự do làm việc, học tâp và tham gia tích cực vào hoạt động gia đình, đời sống cộng đồng. Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho người cao tuổi là quan tâm đến thể chất, tinh thần và xã hội của người 6 tuổi trở lên.
Quan điểm của Tổ chức y tế thế giới (WHO) về việc CSSK NCT: “Nhằm cải thiện tình trạng và chất lượng cuộc sống chứ không chỉ đơn giản là kéo dài hi vọng sống của họ” (36). Để đạt được mục tiêu đó, các chiến lược về phòng bệnh, điều trị, phục hồi chức năng thỏa đáng phải đến được với người cao tuổi. Hành vi nguy cơ sức khỏe Các hành vi của con người đều có ảnh hưởng đến việc duy trì, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, hoặc ảnh hưởng đến một tình trạng sức khoẻ nào đó. Ví dụ: vận 5 động thể chất; vấn đề ăn uống; sử dụng thuốc lá; vệ sinh môi trường sống; nghỉ ngơi; kiểm tra sức khoẻ định kì.(37) Hành vi nguy cơ là hành động bất lợi làm tăng hoặc nguy cơ mắc bệnh hoặc cản trở sự phục hồi.
Ít nhất năm loại hành vi đã được tìm thấy liên quan đến tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong: (1) tiêu thụ chế độ ăn nhiều calo, chất béo và natri, và ít chất dinh dưỡng, (2) mức độ Hoạt động thể lực thấp và cao mức độ hoạt động ít vận động, (3) hút thuốc lá, (4) lạm dụng các chất bao gồm rượu, thuốc theo toa và thuốc bất hợp pháp và (5) có hành vi tình dục rủi ro. Ngược lại, các hành vi bảo vệ sức khỏe là hành động làm giảm tính nhạy cảm của bệnh hoặc tạo điều kiện phục hồi sức khỏe. Ba hành vi bảo vệ sức khỏe được thiết lập để liên kết với sức khỏe tốt hơn và phục hồi sau khi bị bệnh: (1) Hoạt động thể lực; (2) ăn trái cây và rau quả và (3) tuân thủ thuốc theo quy định (38) Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào những hành vi sức khỏe phổ biến có nguy cơ dẫn đến các bệnh mạn tính thường gặp ở NCT (dựa trên công cụ STEPS WHO - NCDs) (39). Các hành vi đó là: lạm dụng đồ uống có cồn, hút thuốc lá, chế độ ăn hoạt động thể lực của NCT.
Chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội c ng như đánh giá về mức độ sự sảng khoái, hài lòng (well-being) hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội. Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần (40). Theo tiêu chí của tổ chức Y tế thế giới (WHO), chất lượng cuộc sống gồm một số tiêu chí như: Mức độ sảng khoái về thể chất gồm: Sức khỏe, Tinh thần, Ăn uống, Ngủ, nghỉ, Đi lại (giao thông, vận tải), Thuốc men (y tế, chăm sóc sức khỏe); Mức độ sảng khoái về tâm thần: Yếu tố tâm lý, Yếu tố tâm linh (tín ngưỡng, tôn giáo); Mức độ sảng khoái về xã hội gồm: Các mối quan hệ xã hội kể cả quan hệ tình dục; Môi trường sống (bao gồm cả môi trường xã hội: an toàn, an ninh, kinh tế, văn hóa, chính trị… và môi trường thiên nhiên) (41). 6 Già hóa dân số Quá trình già hoá: là thời gian (tính bằng năm) để tăng 1 % lên 2 % số lượng người cao tuổi (t 6 trở lên) trên tổng dân số hoặc tăng t 7% lên 14% NCT t 65 tuổi trở lên trên tổng dân số (42).
Tuỳ thuộc tỷ lệ NCT trong dân số Người ta chia già hoá dân số: thành 4 giai đoạn bao gồm già hoá, già, rất già và siêu già. Theo quy ước tại Việt Nam, dân số được coi là “già hóa” khi người t 6 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ 1 % dân số; mốc “già” khi tỉ lệ này là 2 % dân số; mốc “rất già” khi tỉ lệ này là 2 % dân sốc và “siêu già” là 35% (43). Tình hình già hóa dân số và những hệ lụy 1. Trên thế giới Già hóa dân số là một hiện tượng toàn cầu, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều có tốc độ gia tăng về quy mô và tỷ lệ người cao tuổi trong dân số.
Có 7 3 triệu người t 65 tuổi trở lên Trên thế giới Năm 2 19.