đặt vấn đề giá trị thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài. Chƣơng 2: Trình bày nội dung Thí nghiệm nén tĩnh hiện trƣờng và nội dung chính TCVN 9393:2012. Chƣơng 3: Trình bày các nội dung cơ sở lý thuyết chính tiêu chuẩn EUROCODE 7 và các tổ hợp tính toán độ tin cậy. Chƣơng 4: Xử lý số liệu hiện trƣờng, phân tích, tính toán, đánh giá và so sánh kết quả giữa hai tiêu chuẩn TCVN 9393:2012 và EUROCODE 7.
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị. Tài liệu tham khảo: trích dẫn các tài liệu liên quan phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài. Phụ lục: một số bảng tra các hệ số tính toán và các sơ đồ, bảng thống kê tính toán. NÉN TĨNH HIỆN TRƢỜNG VÀ NỘI DUNG TIÊU CHUẨN VIỆT NAM 9393:2012 2.1 Khái quát chung về Thí nghiệm hiện trƣờng bằng tải trọng tĩnh ép dọc trục Thí nghiệm nén tĩnh cọc đƣợc đánh giá cao ở nhiều nƣớc, kể cả các nƣớc tiên tiến nhƣ Mỹ, Pháp, Nhật… Thí nghiệm đƣợc tiến hành bằng phƣơng pháp dùng tải trọng nén tĩnh ép dọc trục cọc sao cho dƣới tác dụng của lực ép, cọc lún sâu thêm vào đất nền.
Tải trọng tác dụng lên đầu cọc đƣợc thí nghiệm bằng kích thủy lực với hệ phản lực là dàn chất tải, neo hoặc kết hợp cả 2. Các số liệu về tải trọng, biến dạng, chuyển vị thu đƣợc trong quá trình thí nghiệm là cơ sở để phân tích, đánh giá sức chịu tải và mối quan hệ tải trọng, chuyển vị của cọc trong đất nền. Hệ gia tải bằng kích thủy lực thể hiện ở Hình 2.3, các thông tin đƣợc trích từ Website [12] 5 Hình 2.1 Gia tải bằng kích thủy lực, dùng dàn chất tải và đối trọng kết hợp cọc neo làm đối trọng Hình 2.2 Sơ đồ bố trí hệ kích thủy lực và hệ đo đạc trong thí nghiệm nén tĩnh Hình 2.3 Hệ thống kích thủy lực và đồng hồ đo 6 2.2 Phạm vi áp dụng của thí nghiệm hiện trƣờng bằng tải trọng tĩnh ép dọc trục Phƣơng pháp thử nghiệm hiện trƣờng bằng tải trọng tĩnh dọc trục áp dụng cho cọc đơn thẳng đứng, cọc đơn xiên, không phụ thuộc kích thƣớc cọc và phƣơng pháp thi công (đóng, ép, khoan thả, khoan dẫn, khoan nhồi.) trong các công trình xây dựng. Thí nghiệm cọc bằng phƣơng pháp tải trọng tĩnh ép dọc trục có thể đƣợc thực hiện ở giai đoạn: thăm dò thiết kế và kiểm tra chất lƣợng công trình.
Thí nghiệm nén tĩnh cọc ở giai đoạn thăm dò thiết kế đƣợc tiến hành trƣớc khi thi công cọc đại trà nhằm xác định các số liệu cần thiết kế về cƣờng độ, biến dạng và mối quan hệ tải trọng - chuyển vị của cọc làm cơ sơ cho thiết kế hoặc điều chỉnh đồ án thiết kế, chọn thiết bị và công nghệ thi công cọc phù hợp. Trƣờng hợp biết rõ điều kiện đất nền và có kinh nghiệm thiết kế cọc khu vực lân cận thì không nhất thiết phải tiến hành thí nghiệm thăm dò. Thí nghiệm nén tĩnh cọc ở giai đoạn kiểm tra chất lƣợng công trình đƣợc tiến hành trong thời gian thi công hoặc sau khi thi công xong cọc nhằm kiểm tra sức chịu tải của cọc theo thiết kế và chất lƣợng thi công cọc. Trong các phƣơng pháp thử tải trọng cọc khoan nhồi hay cọc barrette hiện nay nhƣ Thí nghiệm thử tải tĩnh bằng hộp tải trọng Osterberg, thí nghiệm thử động biến dạng lớn (PDA), thí nghiệm biến dạng nhỏ kiểm tra chất lƣợng cọc (PIT), thí nghiệm Statnamic, kết quả thu đƣợc từ phƣơng pháp thử tải tĩnh đƣợc đánh giá là công cụ tốt nhất, đáng tin cậy nhất trong các phƣơng pháp hiện nay; có thể làm cơ sở cho việc kiểm chứng các phƣơng pháp khác.
Bên cạnh đó phƣơng pháp này lại gặp khó khăn với các cọc khoan nhồi có sức chịu tải 10,000 tấn hoặc lớn hơn vì hệ đối trọng phục vụ gia tải cũng sẽ phải cồng kềnh theo và trong điều kiện thực tế Việt Nam hiện nay chỉ có thể thí nghiệm với tải trọng dƣới 5,000 tấn. Ngoài ra, phƣơng pháp truyền thống này tuy không dùng thiết bị hiện đại nhƣng chi phí cũng sẽ rất cao khi gặp điều kiện khó khăn về mặt bằng và mất nhiều thời gian. 7 Và việc xác định tải trọng cực hạn từ kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc tại hiện trƣờng hiện nay cũng đƣợc thể hiện trong nhiều tài liệu và Tiêu chuẩn khác nhau: Thứ nhất: Sức chịu tải giới hạn của cọc trong TCXD 190:1996 xem tải trọng tƣơng ứng chuyển vị đầu cọc là 8cm là tải trọng giới hạn, hay đồng thời cũng xem tải trọng tƣơng ứng chuyển vị đầu cọc bằng 10% chiều rộng cọc là tải trọng giới hạn, trong khi đó theo TCXD 9393:2012 xác định sức chịu tải cực hạn của cọc Qu là tải trọng quy ƣớc ứng với chuyển vị giới hạn quy ƣớc, đƣợc thể hiện rất rõ trong Phụ lục E. Thứ hai: Việc đánh giá sức chịu tải của cọc bằng đồ thị cũng có rất nhiều phƣơng pháp khác nhau: Phƣơng pháp Davisson (1972), Phƣơng pháp De Beer và Wallays (1972), Tiêu chuẩn 80% và 90% của Brinchhansen (1963), Phƣơng pháp Fuller và Hoy (1977),… Các phƣơng pháp trên tuy đƣợc sử dụng phổ biến và dễ áp dụng tuy nhiên vẫn còn có những mặt hạn chế nhất định trong việc lý giải sức chịu tải Pgh của cọc một cách hợp lý.3 Mục đích của Thí nghiệm hiện trƣờng bằng tải trọng tĩnh ép dọc trục Thí nghiệm nén tĩnh cọc đƣợc dùng để xác định hoặc kiểm tra sức chịu tải giới hạn của cọc – Pgh từ đó xác định có đƣợc sức chịu tải thiết kế (Ptk).
Hiện tại ở Việt Nam và trên thế giới đã và đang sử dụng những phƣơng pháp sau nhằm xác định khả năng chịu tải của cọc nhƣ: phƣơng pháp SNIP, phƣơng pháp Davisson, phƣơng pháp Chin, hoặc phƣơng pháp của Canadian…. Trong Luận văn này trình bày 2 phƣơng pháp đang đƣợc sử dụng hiện nay là TCVN 9393:2012 và Tiêu chuẩn Eurocode 7 dựa trên nguyên lý của 2 hệ thống tiêu chuẩn lớn là Châu Mỹ và Châu Âu.4 Các nội dung chính của Thí nghiệm hiện trƣờng bằng tải trọng tĩnh ép dọc trục Thí nghiệm hiện trƣờng bằng tải trọng tĩnh ép dọc trục trong TCVN 9393:2012 Cọc – Phƣơng pháp thí nghiệm hiện trƣờng bằng tải trọng tĩnh ép dọc trục và ASTM D1143-81(1994) Standard Test Method for Piles Under Static Axial Compressive Load (Withdrawn 2006) đƣợc tóm tắt nhƣ sau: 1/. Hướng dẫn về qui cách Thí nghiệm hiện trường bằng tải trọng tĩnh ép dọc trục. Lập sơ đồ thí nghiệm thăm dò và thí nghiệm kiểm tra.
Các tình huống xử lý số liệu theo E1 và E2 của TCVN 9393:2012.5 Nội dung quy trình thí nghiệm và Công tác thu thập số liệu 2.1 Tổng quát quy trình chung Theo TCVN 9393:2012 điểm 4.4 Quy trình gia tải, 4.5 Xử lý và trình bày kết quả thí nghiệm; TCXD 189:1996 và TCXD 190:1996, cách thu thập số liệu để có tập quan hệ (P, S) đều dựa vào trình tự phát triển của tải P và chuyển vị đầu cọc S trên chùm đồ thị từ biến (Nguyễn Văn Đạt. Trong đó, khoảng cách của các Pi nên bằng nhau: 1 1 Pi PTK 4 5 Mỗi Pi lƣu tải từ (1–2)h cho đến ổn định qui ƣớc với Pi = (0,2–0,25) PTK. Thang tải này không đƣợc thay đổi từ cấp tải PTK đến Pmax. Quá trình gia tải phải đảm bảo chuyển vị đầu cọc ổn định quy ƣớc theo mục 4.
Pmax phải đủ lớn để các giá trị cần xem xét của trạng thái giới hạn đều xuất hiện đƣợc. Tốt nhất nên lấy Pmax 3 PTK theo Tiêu chuẩn BS 8004:1986, ASTM D1 143- 81 (1994) hoặc Pmax = (2,5-3) PTK nhƣ điểm 4.7a của TCVN 9393:2012 đã qui định.2 Quy trình thí nghiệm a/. Đối với công trình có qui mô bé: 2 chu trình. Chu trình 1: P = 0 PTK 0 Nhằm xóa bỏ dị thƣờng trong gá lắp và nền cọc để ở các chu trình sau số liệu đƣợc thuần khiết, bởi vậy chỉ cần gia tải và giảm tải, không cần lƣu dài.
Chu trình 2: P = 0 Pmax 0 Nhằm thăm dò tìm với (Pi, Si) mà tại đó khiến độ dốc biểu đồ thay đổi đột ngột hoặc S > [S] theo hƣớng dẫn phụ lục E. Điều này xem xét dễ dàng trên bảng thu thập số liệu (P, S) để từ đó tìm ra Pgh. 9 Thời gian lƣu mỗi cấp tải không quá 2h, riêng với cấp tải 100% Ptk lƣu 6h nhằm quan sát chuyển vị theo dự tính. Đối với công trình có qui mô lớn: 3 chu trình Chu trình 1: P = 0 PTK 0 Chu trình 2: P = 0 2PTK 0 Chu trình 3: P = 0 Pmax 0 Nhằm thu thập số liệu cho công tác khảo sát tìm Pgh của nền cọc.
Đây là nguyên tắc phổ biến của khoa học thực nghiệm vật liệu xây dựng ở nhiều nƣớc. Khẳng định trạng thái dị thƣờng đã xuất hiện ở chu trình 2, nếu có. Chu trình 3 là căn cứ để xác định Pgh. Đồng thời để khẳng định trạng thái mất ổn định nếu có đã xảy ra ở chu trình 2.
Giữ Pmax = 3PTK để S đến trạng thái giới hạn. Khi đó các điểm gãy mới xuất hiện đầy đủ để có căn cứ xem xét và giải đoán giá trị thật của Pgh.3 Công tác thu thập số liệu Từ cấp tải PTK Pmax lƣu 1h. Riêng Pmax của Chu trình 3 lƣu 24h. Sau mỗi chu trình đều phải giảm tải về 0 để xem xét Sdƣ/Smax.
Khi giảm tải, ở mỗi cấp tải chỉ cần lƣu 15‟ – Khi P=0 lƣu 30‟. Ở mọi chu trình đều phải giảm tải về 0 để minh chứng rằng Smax của mỗi chu trình có đạt đến trạng thái giới hạn hay không. Nếu ở chu trình 1 và 2 xảy ra trạng thái này là điều dị thƣờng ở nền cọc. Khi đó, chƣơng trình thí nghiệm phải kết thúc, không cần chuyển sang chu trình 3 nữa.
Để dễ dàng theo dõi công tác thu thập số liệu, đồng thời không gây nhầm lẫn lúc xử lý số liệu, cần lƣu ý: Ở mỗi chu trình, khi P=0 cần chỉnh 4 đồng hồ chuyển vị S về 0. Từ đó, số liệu ghi nhận mới là chuyển vị thực của đầu cọc, không phải chuyển đổi khi xử lý và công tác giám sát mới dễ dàng ở hiện trƣờng. Số liệu của các chu trình phải riêng biệt, không đƣợc nối tiếp nhau giữa các chu trình làm sai lệch giá trị thực của S.6 Quy trình Xử lý số liệu 2.1 Xác định Pgh theo quan hệ (P-S-t) Đặc trƣng này đƣợc xác định bởi các đồ thị quan hệ giữa tải trọng, chuyển vị và thời gian lƣu tải. Ngoài ra các biểu đồ Loga tiêu biểu nhƣ đề cập trong Phụ lục E.