phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương và 4 tiết. 8 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƢ TƢỞNG CỦA NGÔ THÌ NHẬM 1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƢ TƢỞNG CỦA NGÔ THÌ NHẬM 1. Khái quát những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội hình thành tính nhân văn trong tƣ tƣởng Ngô Thì Nhậm Thứ nhất, điều kiện về kinh tế Xứ Đàng Ngoài hay còn gọi là Bắc Hà là lãnh địa của họ Trịnh có hình dạng khá giống Việt Nam thời sơ khai.
Kinh đô của Đàng Ngoài là Thăng Long. Xứ Đàng Trong hay còn gọi là Nam Hà, địa phận của họ Nguyễn. Khởi đầu từ tiên chúa Nguyễn Hoàng thế kỷ XVI, rồi các đời tiếp nối nhau kéo dài một dải xuống tận cực nam. Kinh đô của Đàng Trong là Phú Xuân.
Hai xứ gần như là hai đất nước riêng biệt ngăn cách bởi sông Gianh (Quảng Bình), gọi là An Nam quốc và Quảng Nam quốc, ghép lại thì được chữ S của Việt Nam ngày nay. Đàng Ngoài có núi non hùng vĩ, còn Đàng Trong thì biển đẹp, sông nhiều, ruộng đồng thẳng cánh cò bay. Người dân hay gọi cho dễ nhớ là “vào Nam, ra Bắc” thật giản dị. Vào thế kỉ XVIII, tình hình kinh tế ở cả hai Đàng đều rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng.
Ở Đàng Ngoài, Nhà nước phong kiến sở hữu phần lớn ruộng đất gồm ruộng quốc khố, đồn điền, công điền, công thổ của làng xã, hình thành nên chế độ tư hữu ruộng đất của nhà nước quân chủ chuyên chế. Ruộng đất tư của nông dân bị bọn quan lại tham lam, bọn cường hào địa chủ dùng thủ đoạn để chiếm đoạt và tìm cách biến đất công thành đất tư bên cạnh một phần lớn ruộng rất bị triều đình cắt xén để cấp bổng cho quan lại và binh 9 lính. Việc trả lương cho các võ quan bằng công điền và việc nhà nước cho nông dân thuê ruộng đất rồi trở thành giai cấp địa chủ góp phần làm cho tình hình ruộng đất thêm rối ren phức tạp. Sự tập trung ruộng đất vào tay kẻ thống trị tàn ác đã thúc đẩy sự bần cùng và phá sản của nông dân trở nên nhanh chóng.
Người nông dân không có ruộng để cày, chịu sự bóc lột nặng nề từ thuế khóa. Chính quyền chúa Trịnh đánh thuế nặng tất cả các ngành các nghề, nhằm phục vụ cuộc sống trụy lạc, hưởng thụ xa xỉ của vua chúa quý tộc và quan lại, làm cho các ngành nghề đều không phát triển được. Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí thì “Trưng thu hà lạm khiến người ta cùng kiệt không nộp nổi, khốn đốn đến bỏ nghề. Có người vì thuế sơn mà phải chặt cây sơn; có người vì thuế vải lụa mà phải hủy khung cửi; thu thuế gỗ mà người ta phải bỏ rìu búa; thu thuế cá mà người ta xé lưới chài; thu thuế mật thì bẻ mía, thu thuế bông chè thì vườn tược bỏ hoang” (Nguyễn Phan Quang & Võ Xuân Đàn, 2005, tr.
Tất cả đã làm cho nền kinh tế tiểu nông vốn trì trệ, ì ạch kéo dài trong tàn dư công xã nông thôn nay lại chênh vênh trên bờ vực phá sản. Các chính sách ức thương, thuế khóa nặng nề, tham nhũng của bộ máy quan lại làm cho phương thức sản xuất phong kiến, nền kinh tế nông nghiệp nông thôn suy thoái nghiêm trọng. Thấy được mối nguy hại đó, “năm 1740 Trịnh Doanh đề ra biện pháp giải quyết vấn đề ruộng đất, phỏng theo phép “tỉnh điền” của đời Chu ở Trung Hoa nhằm “quân bình giàu nghèo”, “san đều thuế dịch” (Ngô Thị Mây Ước, 2011, tr. Nhưng trước sự khủng hoảng của chế độ quân chủ tập quyền ở Đàng Ngoài thế kỉ XVIII thì biện pháp của Trịnh Doanh không thể thực hiện được do không quy mô, không triệt để từ nguồn gốc.
Đồng thời chính quyền chúa Trịnh lại càng bất lực trong việc xây dựng, quản lý, tu bổ các công trình thủy lợi. Thiên tai, mất mùa xảy ra quanh năm đã dẫn đến nạn đói nghiêm trọng vào năm 1741 từ Hải Dương rồi lan ra toàn bộ Đàng Ngoài. Không chỉ vậy, chiến tranh kéo theo những món chi tiêu với số tiền 10 khủng, người dân phải gánh thêm các khoản phí khổng lồ của chiến tranh. Điều đó, càng chứng tỏ phương thức sản xuất phong kiến đã trở nên lỗi thời, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khủng hoảng kinh tế ở Đàng Ngoài.
Đứng trước phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời đòi hỏi phải có một phương thức sản xuất mới thay thế. Vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, cuộc sống của người dân Đàng Trong có phần dễ thở hơn so với Đàng Ngoài. Nhờ chính sách Nam tiến, đẩy mạnh khai khẩn đất hoang để phát triển lực lượng cát cứ, xoa dịu mâu thuẫn và nhất là để thu phục lòng dân nên xã hội Đàng Trong tương đối ổn định trong thời gian này. Nhưng ta không thể quên rằng việc giao cho các tư nhân khai khẩn đất đai đã giúp cho họ Nguyễn có chỗ dựa vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến tranh với Đàng Ngoài.
Tầng lớp tiên phong trong công cuộc khai khẩn đất hoang đã giúp cho vùng đất Đồng Nai (Biên Hòa, Gia Định) trở nên thịnh vượng thúc đẩy sự phát triển của nghề thủ công, gia tăng tốc độ phát triển thương mại và đô thị (Hội An, Sài Gòn, Hà Tiên). Việc tăng số lượng sản xuất và hàng hóa đa dạng hơn đã thúc đẩy nghề làm muối, đường, kim hoàn, gạch ngói, chế tác gỗ… phát triển hơn ở Đàng Trong. Sản xuất thủ công từ quy mô gia đình được mở rộng với quy mô lớn hơn, thu hút người nông dân bỏ nghề nông để chuyển sang nghề thủ công dưới dạng sản xuất trực tiếp hoặc làm thuê. Từ đó yếu tố cung cầu và yếu tố thị trường xuất hiện tạo nên sự phân hóa giữa người sản xuất và người tiêu dùng; người lao động ăn lương, phân hóa với người tiêu thụ hàng hóa hình thành nên quan hệ sản xuất mới.
Người lao động trở thành trung gian giữa nhà sản xuất và nhà tiêu dùng; “nhà tư bản thì mua sức lao động và nhà thương mại mua sản phẩm hàng hóa” (Trần Thị Thúy Ngọc, 2018, tr. Từ đó, tầng lớp thương nhân bắt đầu xuất hiện bên cạnh giai cấp địa chủ và giai cấp nông dân. Mầm móng đầu tiên của chủ nghĩa tư bản, sức sản xuất, phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản bắt đầu hình thành, đồng tiền có vai trò tác động 11 mạnh đến đời sống kinh tế, xã hội. Nhưng sự phát triển đó bị các “Nho quan hết mình bảo vệ quyền lợi của đế chế” (Trần Thị Thúy Ngọc, 2018, tr.36) chế ngự, kìm hãm tương đối lớn đến sự phát triển của thương mại và đô thị.
Ở Hội An, do “chúa Nguyễn lũng đoạn và hạn chế xuất khẩu cho nên lượng hàng hóa xuất khẩu chưa lớn” (Nguyễn Duy Hinh, 1989, tr. Xã hội vẫn được duy trì trong khuôn khổ lấy nông nghiệp làm chủ đạo. Giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng lớn mạnh dựa trên quyền sở hữu và sự bóc lột địa tô đối với nông dân. Tình trạng người dân bị bóc lột đã trở nên phổ biến, giá gạo tăng cao do sự khan hiếm về nguồn cung cấp lương thực dẫn đến người dân thiếu đói, người dân không có cái ăn, chết đói đầy đường khiến nền kinh tế tiểu nông ngày càng mâu thuẫn gay gắt với chế độ sở hữu lớn của nhà nước phong kiến.
Ta thấy về bản chất, chính quyền họ Trịnh hay chính quyền họ Nguyễn đều giống nhau ở chế độ cai trị, bóc lột, thuế khóa hà khắc để phục vụ cho cuộc sống hưởng thụ chốn cửa quyền. Dù ở Đàng Trong nạn đói xảy ra muộn hơn nhưng hậu quả của nó hết sức nặng nề. Bối cảnh kinh tế đó dẫn đến sự phân hóa lập trường của các tầng lớp trong xã hội. Một bộ phận chính trị gia lo phục vụ cho quyền lợi của chế độ phủ chúa (chúa Trịnh, chúa Nguyễn), họ có nhiều đặc ân về thu tô thuế, cấp người cấp đất; họ là những “Nho quan hết mình bảo vệ quyền lợi của đế chế và quyền bá chủ của họ vẫn vững vàng, cũng như những lợi thế không hề giảm sút” (Trần Thị Thúy Ngọc, 2018, tr.
Đối lập với lập trường của các chính trị gia là lập trường của quần chúng nhân dân, nông dân mong mỏi được giảm thuế, giảm lao dịch, lấy lại đất đai bị cướp từ các địa chủ quý tộc, quan lại (muốn thay đổi phương thức sản xuất). Có điều, lợi ích của một bộ phận quan lại, địa chủ phong kiến đương thời đang bị tách dần ra khỏi lợi ích của nhân dân và dân tộc. Đứng trước những đổi thay của tình hình kinh tế buộc tầng lớp trí thức Nho học phải đứng ra giải quyết những vấn nạn tư 12 tưởng cho thời đại. Thực tế, họ phải đưa ra những lựa chọn làm xuất hiện sự phân hóa rõ rệt trong tầng lớp trí thức Nho học bấy giờ.
Hoàn cảnh kinh tế nói trên đã khiến cho các sĩ phu yêu nước đương thời nổi bật là Ngô Thì Nhậm không thể khoanh tay đứng nhìn, không thể vô cảm trước sự khó khăn của người dân. Ông đã thống thiết cáo gấp với triều đình rằng: “Địa hạt của thần từ năm Canh Thân bị lũ cường đồ lừa dối, mặt đất nổi chông gai”; “số dân tăng nhưng lẫn trốn đi nhiều, vì dân nghèo, người thì bị nhà chức trách thu thuế nặng, người thì bị bọn thổ hào thu thuế nặng, người thì bị bọn thổ hào chiếm đoạt ruộng đất”; “… nay đồng ruộng không ai nhìn tới, mà những người giữ chức vị chăn dân ấy thì cứ theo sổ cũ để thu thuế, dân cày ruộng phải mượn nghề khác để lấy thóc nộp tô. Cái ẩn tình đau khổ của dân chính là ở đó” (Mai Quốc Liên, (chủ biên), 2001c, tr. Hiểu được “cái ẩn tình đau khổ của dân”, Ngô Thì Nhậm đã trình bày lên triều đình nguyên nhân gây nên nỗi thống khổ của nhân dân: “Thần trộm thấy từ khi dùng binh ở cõi Nam, đến nay đã ba năm.
Triều đình làm công việc đánh giặc, thương dân: thiên hạ cùng một lòng căm thù, chống địch. Hai xứ cung cấp lính tráng, bốn tuyên cung cấp lương thực, sáu quân đánh, giữ ở ngoài mặt trận cho đến các người buôn bán chuyển vận ở các đường, ai ai cũng mừng vì đất cũ được thu về và mong thuế khóa có phần giảm nhẹ; ai ai cũng có cái nguyện vọng được nghỉ ngơi.