chương 1 đề cập đến tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam, giới thiệu đối tượng giao dịch cổ phiếu là các nhà đầu tư cá nhân, họ đã và đang đóng góp đáng kể vào sự duy trì, phát triển của thị trường, Chương này cũng trình bày lý do thực hiện luận án với mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Qua đó, luận án mong được đóng góp mới về mặt lý thuyết, các mối quan hệ trong nghiên cứu, về mặt thực tiễn, hàm ý chính sách, quản trị và cấu trúc luận án.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức hoạt động tháng 7/2000 theo Nghị định số 48/CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán của Chính phủ ngày 11/07/1998. Đến nay, nhà đầu tư giao dịch cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán.Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE/HSX), Sở giao dịch.chứng khoán Hà Nội (HNX) và Thị trường Cổ phiếu chưa niêm yết (Upcom). Theo số liệu.thống kê của Ủy ban chứng.khoán nhà nước, TTCK Việt Nam đã đạt.thành tựu nhất định sau: 1.1 Giá trị vốn.hóa thị trường: Giá trị vốn hóa thị trường cuối năm 2020 đạt 4.320 nghìn tỷ (HNX) và 1.696 nghìn tỷ (Upcom), toàn thị trường đạt 6.640 nghìn tỷ (bao gồm trái.phiếu chính phủ.phiếu Doanh nghiệp) cao gấp 3,07 lần so với cuối năm 2015 (đạt 2.
Giá trị vốn hóa so với GDP đạt 110.chứng khoán: Chỉ số chứng.khoán trên thị trường cuối năm 2020 có xu hướng tăng so với cuối năm trước 2019, cụ thể: Chỉ số VNIndex đạt mức 1.103,87 điểm so với cuối năm 2019 là 960,99 điểm, tốc độ tăng trưởng tại HOSE là 15%. Trong khi đó, Chỉ số HNXIndex tăng 98% so với cuối năm 2019 từ 102,51 điểm, tăng lên 203,12 điểm tại cuối năm 2020. Chỉ số UpComIndex: Biên độ dao động của chỉ 2 số này so với năm 2019 là 131%. Nhìn chung các chỉ số đều tăng so với năm 2019 nhưng tăng mạnh nhất là HNX, kế đến Upcom và HOSE.3 Số doanh nghiệp niêm yết: Số lượng doanh.nghiệp đăng ký niêm yết.tăng, giảm trong giai đoạn 2015 - 2020 tùy vào Sở giao dịch chứng khoán, cụ thể: tại HOSE có 307 doanh nghiệp niêm yết đến thời điểm năm 2015, tăng lên 392 trong năm 2020, trong khi đó tại HNX giảm từ 367 doanh nghiệp niêm.yết xuống còn 353 doanh nghiệp, số doanh nghiệp giảm có thể do hủy niêm yết hay một số Công.ty niêm yết chuyển đổi niêm yết sang HOSE hay Upcom và Thị trường Cổ phiếu chưa niêm yết (Upcom) tăng từ 872 trong năm 2015 lên 910 doanh nghiệp tại cuối năm 2020.4 Số tài khoản Trong thời gian.5 năm, từ cuối năm 2015 đến cuối năm 2020, nhà đầu tư đăng ký tài.khoản giao dịch tăng đáng kể.
Đối với nhà.nước gồm cá nhân và tổ chức với mức tăng tương ứng 183% và 177%, nhà đầu tư cá nhân.nước ngoài tăng 205% và 148% so với tổ chức nước ngoài. Điều quan trọng tỷ lệ nhà đầu tư.cá nhân giao dịch chiếm thị phần lớn với 181 lần so với các tổ chức giao dịch trong năm 2020 và 167 lần trong năm 2015 (Bảng 1. Tài khoản nhà đầu tư đăng ký giao dịch cuối năm 2015 và 2020 ĐVT: tài khoản Trong nước Nước ngoài Tổng cộng Tỷ lệ Thời gian Cá nhân Tổ chức Cá nhân Tổ chức Cá nhân Tổ chức (lần) Cuối năm 2015 1,486,644 6,343 15,221 2,656 1,501,865 8,999 167 Cuối năm 2020 2,725,087 11,251 31,134 3,937 2,756,221 15,188 181 Tăng/giảm 183% 177% 205% 148% 184% 169% (Nguồn: Ủy ban.chứng khoán nhà nước) Theo Bảng 1.1, cho thấy phần lớn giao dịch trên TTCK.Việt Nam chủ yếu là các NĐT cá. Thị trường chứng khoán đã và đang hỗ trợ rất tốt cho công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và cùng với hệ thống các tổ chức tài 3 chính tạo ra thị trường vốn linh hoạt, cân đối và đóng góp.cho sự phát triển kinh tế.với doanh nghiệp, để có thể huy động vốn.đầu tư dài hạn, bổ sung nguồn vốn kinh doanh, bên cạnh việc đi vay vốn của các tổ chức tín dụng, các công ty cổ phần có thể thực hiện huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu hay cổ phiếu đến các cổ đông hiện hữu, cổ đông chiến lược, đây chính là kênh mang lại nguồn vốn dồi dào từ các.nhà đầu tư nhằm giúp các công ty phát triển ổn định và bền vững.2 Sự cần thiết.của nghiên cứu 1.1 Thực trạng đầu tư cổ phiếu của nhà.tư cá nhân đã đóng góp rất lớn cho sự.phát triển của TTCK Việt Nam (Bảng 1.
Tuy nhiên, NĐT cá nhân cũng trải qua nhiều thăng trầm khi tham gia giao dịch cổ phiếu. Cụ thể, khi thế giới đối diện với sự khủng hoảng tài.chính toàn cầu năm 2007, chỉ số VN-INDEX năm 2007 tăng đột biến, TTCK Việt Nam trở thành thị trường “nóng” nhất. Theo Tạp chí tài chính, NĐT cá nhân đã không ngần ngại sử dụng đòn bẩy “rất lớn” để mua cổ phiếu. Hậu quả sau đó, giá cổ phiếu lao dốc trong năm 2009- 2010, hàng loạt NĐT lâm vào cảnh “nợ nần chồng chất”, không còn tiền để trả ngân hàng do dùng đòn bẩy, dẫn đến phá sản.
Gần đây nhất, năm 2020, theo Tạp chí Kinh tế Việt Nam, khi thị trường chứng khoán khởi sắc, chỉ số VNIndex đạt 915 điểm (01/10/2020) lên đến 1.015 điểm (31/12/2020), nhiều nhà đầu tư xem đây là cơ hội để đạt lợi nhuận cao hơn so với gửi tiết kiệm ngân hàng; do đó, họ đã rút tiền gửi ngân hàng để mua cổ phiếu. Tuy nhiên, chỉ sau vài phiên giao, chỉ số VNIndex đã giảm 90 điểm, từ 1.035 điểm (28/01/2021), các nhà đầu tư đối mặt với những khoản lỗ rất lớn. Ngay cả một số NĐT đạt lợi nhuận 20% trước đó, cũng bị lỗ thêm 20% so với vốn. Có nghĩa rằng, họ đã mất 40% tổng số tiền chỉ trong một khoản thời gian rất ngắn, 10 ngày.
4 Quan trọng hơn, khi thị trường lao dốc liên tục, cộng với dịch bệnh COVID-19 bùng phát lần 3 (tháng 01/2021), nhiều NĐT đã bán cổ phiếu bằng mọi giá, chấp nhận bán giá thấp nhằm cắt lỗ, để thu lại số tiền đầu tư với mong muốn: lấy lại những gì có thể lấy lại được. Ngoài ra, một số NĐT khi giao dịch cổ phiếu, họ không ít lần phải cắt lỗ ngay cả lúc thị trường tăng điểm do không lường trước được rủi ro có thể xảy ra, dẫn đến lựa chọn cổ phiếu chưa đúng thời điểm và gặp phải tình trạng “mua ngay đỉnh, bán ngay đáy.” Sự tổn thất lớn có thể gây cho NĐT chán nản, không còn mong muốn tiếp tục đầu tư và có thể chuyển đổi xu hướng đầu tư sang các kênh khác như tiết kiệm ngân hàng, vàng, ngoại tệ. Do vậy cần có nhiều giải pháp để giúp NĐT giảm bớt lo ngại, xem kênh đầu tư tài chính là một phần tiết kiệm tích lũy, lâu dài, có cái.nhìn tích cực hơn về sự.phát triển của TTCK.Việt Nam, và tiếp.tục tham gia đầu tư trên thị trường.lý thuyết qua lược.khảo các nghiên cứu.thực nghiệm tại Việt Nam và thế giới. Nhiều nghiên cứu.trước đây đã tìm thấy vai.trò của tính cách trong các quyết định đầu tư và khẳng định rằng, việc hiểu rõ tính cách sẽ giúp cho NĐT thận trọng hơn trong các quyết định, mang lại hiệu quả trong đầu tư, và là động lực cho NĐT tiếp tục đầu tư trên TTCK (Aren và cộng sự, 2021; Aren & Hamamcı, 2020; Akhtar & Batool, 2012; Mayfield và cộng sự, 2008; Nandan & Saurabh, 2016).
Năm tính cách (Big Five) được tìm thấy có ảnh.hưởng trực tiếp.định đầu tư như: tính cởi mở (Aren & Hamamcı, 2020; Akhtar & Batool, 2012); tính tận tâm (Aren và cộng sự, 2021; Akhtar & Batool, 2012; Nandan & Saurabh, 2016); tính hướng ngoại (Nandan & Saurabh, 2016; Mayfield và cộng sự, 2008); tính dễ chịu (Aren và cộng sự, 2021; Nandan & Saurabh, 2016); và tính nhạy cảm (Aren và cộng sự, 2021; Aren & Hamamcı, 2020; Nandan & Saurabh, 2016; Mayfield và.nhiên, hầu như các nghiên.cứu trước chỉ tìm thấy một hoặc hai trong năm.tính cách có ảnh hưởng trực tiếp đến dự định.đầu tư (Aren & Hamamcı, 2020; Akhtar & Batool, 2012; Mayfield và cộng. Đặc biệt, Mayfield 5 và cộng.sự (2008) chỉ tìm thấy duy nhất tính cởi mở tác động trực tiếp đến dự định đầu tư dài hạn. Điều này có thể dẫn đến một lập luận rằng: bản chất của tính cách không thể giải thích một cách đầy đủ việc ra quyết định. Thay vào đó, cần phải trải qua nhận.ro, không chắc.chắn và kết quả đầu.tư đạt được từ thực tế trước khi hình thành quyết.
Nhận thức rủi ro là yếu tố cốt lõi để giải thích kết quả đầu tư (Hoffmann và cộng.sự, 2015; Lim và cộng.sự, 2016; Trang & Khuong, 2017; Trang & Tho, 2017). Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận mong đợi đã được tìm thấy rất rõ trong lý thuyết tài chính truyền thống và hiện đại (tài chính hành vi). Lý thuyết tài chính truyền thống – như Mô hình.định giá tài.sản vốn – CAPM thể hiện mối.quan hệ cùng.chiều giữa rủi.ro và lợi nhuận: rủi.ro càng cao.nhuận mong đợi càng cao. Một số nghiên cứu về hành vi tài chính cũng tìm thấy mối.quan hệ cùng chiều giữa nhận thức rủi.ro và lợi.
Nhận thức rủi ro cũng được tìm thấy là yếu tố trung gian, giải thích sự ảnh.hưởng của tính cách đến kết.quả đầu tư và quyết. Có nghĩa rằng, tính cách ảnh hưởng đến nhận.ro, và sau đó sự ảnh.hưởng này sẽ tác động đến kết quả.đầu tư và quyết định đầu. Tuy nhiên, vai trò trung gian của nhận thức.rủi ro (không chắc.chắn), và kết.tư rất ít nghiên cứu kiểm tra một cách rõ ràng. Do đó nghiên cứu mong đợi có điểm mới về.
Từ thực tế, một số NĐT có hiệu quả thì mong muốn tiếp tục đầu tư và cũng không ít NĐT chưa khả quan khi đầu tư chứng khoán thì họ muốn rời bỏ thị trường, do vậy nghiên cứu đề xuất các.tác động đến dự định tiếp tục đầu tư chứng khoán (cổ phiếu) của NĐT cá nhân bằng sự kết hợp với ba lý thuyết nền tảng: (i) Lý thuyết về tính cách (trait theory), (ii) Lý thuyết.tài chính: bao gồm tài.chính cổ điển (traditional finance theory) với tài chính hiện đại – tài chính hành vi (behavioral finance), và (iii) Lý thuyết về dự định hành vi (theory of planned behavior – TPB). 6 Lý thuyết về tính cách (Trait Theory) Lý thuyết về tính cách liên quan đến tính cách con người. Allport (1961) đã phát triển 4.500 tính từ chỉ về tính cách và phân loại chúng theo ba cấp: chủ yếu (đam mê/ám ảnh), trung tâm (trung thực) và thứ cấp (thích/không thích). Tính cách khác với cảm xúc: tính cách tương đối ổn định theo thời gian, trong khi cảm xúc thay đổi theo thời gian và chỉ xảy ra tại một thời điểm ngắn (Ekkekakis, 2013).