CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍNH BỀN VỮNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Một số khái niệm chung 1. Khái niệm về tính bền vững và phát triển nông thôn bền vững Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia tiếng Việt), có một số khái niệm sau đây: Phát triển: Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu. Phát triển bền vững: Phát triển bền vững là một quá trình phát triển hài hòa với điều kiện xã hội và điều kiện tự nhiên, từ đó có thể gia tăng khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thế hệ hiện tại nhưng không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai. Phát triển bền vững phải đảm bảo 3 mục tiêu: Kinh tế, xã hội và môi trường. Nông thôn: “Nông thôn” là một khái niệm thông dụng, nhưng có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các quốc gia khác nhau.
Trong tâm thức người Việt, khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt. Làng - xã là một cộng đồng địa vực, cộng đồng cư trú có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định. Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế, có ruộng, có nghề, có chợ…tạo thành một không gian khép kín thống nhất. Làng - xã là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán, văn hoá, là một đơn vị tự trị về chính trị.
Trong lịch sử, làng - xã là đơn vị hành chính cơ sở. Làng - xã đã từng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước, là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, nuôi dưỡng nguyên khí của dân tộc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trước các nguy cơ đồng hoá, nô dịch. Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng, nói cách khác, Làng Việt là đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam. Ngân hàng thế giới (2008) cho rằng “vùng nông thôn có thể được định nghĩa bởi quy mô định cư, mật độ dân số, khoảng cách đến những vùng thành thị, phân chia hành chính và tầm quan trọng của ngành công nghiệp” Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), có hai phương pháp chính để định nghĩa nông thôn.
Phương pháp thứ nhất là sử dụng định nghĩa địa - chính trị. Trước hết thành thị được xác định bởi luật là tất cả những trung tâm của tỉnh, huyện và các vùng còn lại được định nghĩa là nông thôn. Phương pháp phổ biến thứ hai là sử dụng mức độ tập trung dân số sống thành cụm quan sát được để xác định vùng thành thị. Trong một vùng có các hộ gia đình sống gần nhau tạo nên cộng đồng lớn hơn một số nhất định nào đó, ví dụ 2000 người, thì được coi là thành thị và “khu vực còn lại được coi là nông thôn”.
Phương pháp này có sự thuyết phục hơn bởi nó đưa ra một giới hạn xác định rõ ràng. Tuy nhiên, giới hạn này rất khác nhau theo từng nước. Bên cạnh đó, có một số quốc gia sử dụng cách tính mức độ sẵn có của các loại hình dịch vụ để xác định vùng thành thị, phần còn lại là nông thôn. Phương pháp này thích đáng ở quan điểm phân tích nghèo đói, bởi sự thiếu vắng các dịch vụ cần thiết thường đi kèm với đói nghèo.
Hiện nay, Việt Nam theo phương pháp thứ nhất - định nghĩa địa chính trị để phân định nông thôn-thành thị. Khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". Nông thôn, theo quy định về hành chính và thống kê Việt Nam là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị). Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội.
Nông thôn được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo đó, hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau: - Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội: Ở nông thôn, đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, vv. - Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất nông nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. - Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: Nông thôn thường rất đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã.
Đặc trưng này bao gồm rất nhiều khía cạnh như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi,. đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế,. ngay cả đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ở,. Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nông thôn.
Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hệ thống xã hội nông thôn. Phát triển nông thôn: Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn. Quá trình này, trước hết chính là do người dân nông thôn với sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức khác. Nông thôn mới Đã có rất nhiều diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn mới.
Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới. Ở đây chúng ta sẽ không thảo luận về định nghĩa nông thôn mới, mà sẽ xem xét từ góc độ nông thôn mới gồm có những đặc điểm gì. Nghị Quyết 26- NQ/TW đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”. Như vậy, nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố.
Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống.Có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản đó là: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ. Nông thôn mới gồm các chức năng sau: a) Chức năng vốn có của nông thôn là sản xuất nông nghiệp: Nông thôn mới phải là nơi sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa, không phải là tự cung, tự cấp, phát huy được đặc sắc của địa phương (đặc sản). Đồng thời với việc này là phát triển sản xuất ngành nghề, trước hết là ngành nghề truyền thống của địa phương. Sản phẩm ngành nghề vừa chứa đựng yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của từng làng quê Việt Nam, vừa tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn.
Xây dựng nông thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị. Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn. b) Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc: Quốc gia nào cũng vậy, các tộc người được sinh ra bắt đầu từ nông thôn hoặc là đồng bằng và miền núi, ven sông suối, ven biển. Sự phát triển của nhân loại tạo ra đô thị.
Bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng nghĩa với bản sắc từng dân tộc, giữ gìn nó là giữ gìn văn hóa truyền thống đa dạng của các dân tộc, của từng quốc gia. Làng quê nông thôn Việt Nam khác so với các nước xung quanh, ngay cả ở Việt Nam, làng quê dân tộc Thái khác với các dân tộc H'Mông, khác với Ê-đê, Ba-na, người Kinh. Nếu quá trình xây dựng nông thôn mới làm phá vỡ chức năng này là đi ngược lại với lòng dân và làm xóa nhòa truyền thống văn hóa muôn đời của người Việt. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com c) Chức năng bảo đảm môi trường sinh thái: Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn.
Nếu như nền văn minh công nghiệp phá vỡ mối quan hệ hài hòa vốn có giữa con người và thiên nhiên, thì sản xuất nông nghiệp lại mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái. Từ vườn cây, ao cá, cánh đồng lúa bát ngát mênh mông, trang trại cà phê, tiêu., hệ thống tưới tiêu, hồ đập thủy lợi cho đến bờ dậu. làm cho con người gần gũi, gắn chặt với thiên nhiên.