Luận văn: Tín dụng NHCSXH với xóa đói giảm nghèo ở Ninh Bình - ĐH Kinh tế, ĐHQGHN

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh ninh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2014

93
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tín dụng NHCSXH Đòn bẩy xóa đói giảm nghèo tại Ninh Bình

Tín dụng chính sách xã hội là một công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội. Tại Ninh Bình, một tỉnh có 80% dân số sống bằng nông nghiệp và nền kinh tế từng bước phát triển, vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) càng trở nên thiết yếu. Hoạt động tín dụng NHCSXH không chỉ cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách khác, mà còn tạo ra động lực mạnh mẽ để họ vươn lên thoát nghèo bền vững. Nguồn vốn này giúp người dân đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống. Thông qua các chương trình cho vay được thiết kế đặc thù, NHCSXH tỉnh Ninh Bình đã trở thành cầu nối hiệu quả, đưa chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước đến với từng người dân. Theo thống kê, nhờ sự ra đời và hoạt động của NHCSXH tỉnh Ninh Bình, tỷ lệ đói nghèo toàn tỉnh đã giảm rõ rệt qua các giai đoạn: từ 12,4% (theo tiêu chí 2011-2015) xuống còn 7,54% vào năm 2012. Điều này khẳng định vị thế và tầm quan trọng của tín dụng chính sách trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1.1. Tổng quan về thực trạng đói nghèo tại tỉnh Ninh Bình

Trước khi có sự can thiệp mạnh mẽ của các chính sách tín dụng, Ninh Bình phải đối mặt với tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010, toàn tỉnh có tới 40.616 hộ nghèo. Đến cuối năm 2011, con số này là 25.686 hộ, chiếm 9,85% tổng số hộ toàn tỉnh, một tỷ lệ cao hơn so với bình quân khu vực đồng bằng sông Hồng. Đặc điểm chung của các hộ nghèo tại Ninh Bình là thường tập trung ở vùng núi, vùng trũng, gia đình đông con, thiếu đất sản xuất và không có nghề nghiệp ổn định. Nhiều hộ mang tâm lý mặc cảm, tự ti, hạn chế về kiến thức xã hội. Các hộ nghèohộ cận nghèo luôn có ranh giới mong manh, chỉ một rủi ro nhỏ như thiên tai, dịch bệnh hay có người đau ốm cũng có thể khiến một hộ cận nghèo tái nghèo. Do đó, việc xác định đúng nguyên nhân và đưa ra giải pháp hỗ trợ kịp thời, đặc biệt là hỗ trợ vốn, là yêu cầu cấp thiết.

1.2. Sự cần thiết của nguồn vốn ưu đãi cho các hộ nghèo

Phân tích nguyên nhân đói nghèo tại Ninh Bình cho thấy, thiếu vốn sản xuất là nguyên nhân chủ yếu và chiếm tỷ lệ cao nhất (38,5%). Thiếu vốn đẩy người dân vào vòng luẩn quẩn: sản xuất kém hiệu quả, không đủ ăn, phải đi vay nặng lãi để trang trải cuộc sống. Theo kết quả điều tra, mong muốn được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất chiếm tới 44,98% số hộ được khảo sát. Điều này cho thấy nguồn vốn tín dụng chính là "chìa khóa" quan trọng nhất để giúp người nghèo tự vươn lên. Nguồn vốn ưu đãi từ NHCSXH không chỉ giải quyết bài toán thiếu vốn trước mắt mà còn giúp người nghèo tránh xa "tín dụng đen", có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Hỗ trợ vốn là tiền đề để thực hiện các mục tiêu khác như tạo việc làm, nâng cao dân trí và xây dựng nông thôn mới, góp phần ổn định chính trị - xã hội tại địa phương.

II. Thách thức của tín dụng NHCSXH với bài toán giảm nghèo

Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, hoạt động tín dụng NHCSXH tại Ninh Bình cũng đối mặt với không ít thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc đảm bảo nguồn vốn đến đúng đối tượng và được sử dụng hiệu quả. Tình trạng cho vay không đúng đối tượng, sử dụng vốn sai mục đích vẫn còn xảy ra ở một số nơi, làm giảm hiệu quả của chính sách. Thêm vào đó, mức vốn vay và thời hạn cho vay đôi khi chưa thực sự phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh của từng mô hình kinh tế, đặc biệt là trong nông nghiệp. Việc nhận bàn giao dư nợ từ các tổ chức tín dụng khác với tỷ lệ nợ quá hạn cao (3,38%) cũng là một gánh nặng ban đầu. Quy mô tín dụng so với nhu cầu thực tế của người dân còn thấp. Mô hình hoạt động của các Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) dù hiệu quả nhưng vẫn bộc lộ một số hạn chế trong công tác quản lý, giám sát, dẫn đến rủi ro nợ xấu và tình trạng xâm tiêu, chiếm dụng vốn. Giải quyết những thách thức này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa NHCSXH, chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội.

2.1. Các nguyên nhân cốt lõi gây đói nghèo kéo dài ở Ninh Bình

Nghèo đói ở Ninh Bình là kết quả của nhiều yếu tố đan xen. Báo cáo của NHCSXH tỉnh Ninh Bình đã chỉ ra các nhóm nguyên nhân chính. Thiếu vốn sản xuất (38,5%) là rào cản lớn nhất. Tiếp theo là nhóm nguyên nhân thiếu lao động, đất đai và thiếu việc làm (25,8%). Nhiều gia đình neo đơn, hoặc lao động chính gặp vấn đề sức khỏe, không đủ sức canh tác. Thiếu kinh nghiệm sản xuất (20,2%) cũng là một yếu tố quan trọng; người dân quen với phương thức canh tác truyền thống, ngại thay đổi, dẫn đến năng suất thấp. Cuối cùng, các yếu tố như ốm đau, tàn tật, lười lao động chiếm 15,5%. Những nguyên nhân này tạo thành một vòng luẩn quẩn, khiến việc thoát nghèo trở nên khó khăn và thiếu bền vững nếu không có sự can thiệp và hỗ trợ đúng hướng từ các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là chính sách tín dụng.

2.2. Khó khăn ban đầu khi triển khai hoạt động tín dụng ưu đãi

Khi mới thành lập, Chi nhánh NHCSXH tỉnh Ninh Bình hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn. Số lượng cán bộ ban đầu chỉ có 10 người, trụ sở phải đi thuê, trang thiết bị thiếu thốn. Chi nhánh phải tiếp nhận bàn giao hàng trăm tỷ đồng dư nợ từ Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại, trong đó tồn tại nhiều vấn đề phức tạp như nợ quá hạn cao, tình trạng xâm tiêu, chiếm dụng, vay hộ, vay ké. Việc xử lý những tồn đọng này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Đồng thời, ngân hàng phải ngay lập tức tổ chức triển khai giải ngân nguồn vốn ưu đãi mới cho các hộ nghèo và đối tượng chính sách khác một cách kịp thời. Việc vừa củng cố tổ chức, vừa xử lý nợ cũ, vừa triển khai nhiệm vụ mới đã tạo ra áp lực rất lớn cho đội ngũ cán bộ trong giai đoạn đầu, ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ và quy mô mở rộng tín dụng.

III. Phương pháp vận hành tín dụng NHCSXH hiệu quả tại Ninh Bình

Để vượt qua thách thức và tối ưu hóa hiệu quả nguồn vốn ưu đãi, NHCSXH tỉnh Ninh Bình đã xây dựng và vận hành một mô hình tổ chức và hoạt động đặc thù, mang tính xã hội hóa cao. Mô hình này không chỉ dựa vào bộ máy chuyên trách của ngân hàng mà còn huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, từ cấp tỉnh đến cơ sở. Điểm cốt lõi trong phương pháp vận hành là việc ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên. Các tổ chức này đóng vai trò là "cánh tay nối dài", giúp ngân hàng thẩm định, giám sát và đôn đốc thu hồi nợ. Mạng lưới các Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) được thành lập tại từng thôn, xóm là hạt nhân của mô hình. Đây là nơi thực hiện bình xét cho vay một cách công khai, dân chủ theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra", đảm bảo vốn đến đúng đối tượng. Phương pháp này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc quản lý tín dụng chính sách.

3.1. Cấu trúc tổ chức đặc thù của chi nhánh NHCSXH tỉnh

Mô hình tổ chức của NHCSXH tỉnh Ninh Bình bao gồm Ban đại diện Hội đồng quản trị (HĐQT) ở cấp tỉnh và cấp huyện, cùng với bộ phận tác nghiệp là các phòng giao dịch của ngân hàng. Ban đại diện HĐQT bao gồm lãnh đạo UBND và đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể liên quan. Cấu trúc này đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với hoạt động tín dụng chính sách. Từ 10 cán bộ ban đầu, đến nay chi nhánh đã có 108 cán bộ, hầu hết có trình độ đại học, cao đẳng, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu công việc. Đặc biệt, ngân hàng đã thiết lập 145/146 điểm giao dịch cố định tại các xã, phường, thị trấn. Việc này giúp đưa dịch vụ tài chính đến gần dân hơn, tiết kiệm chi phí đi lại và thời gian cho người vay, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa ngân hàng và chính quyền cơ sở.

3.2. Vai trò của các tổ chức chính trị xã hội và Tổ TK VV

Các tổ chức chính trị - xã hội và Tổ TK&VV là hai trụ cột không thể thiếu trong phương thức cho vay của NHCSXH. Các hội, đoàn thể nhận ủy thác một số công đoạn trong quy trình tín dụng, giúp phổ biến chính sách, hướng dẫn người dân làm thủ tục, giám sát việc sử dụng vốn và thu lãi. Mô hình này phát huy được lợi thế gần dân, hiểu dân của các tổ chức đoàn thể. Trong khi đó, Tổ TK&VV là nơi các hộ vay vốn sinh hoạt, tương trợ lẫn nhau. Thông qua tổ, các thành viên không chỉ được vay vốn mà còn được chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, giám sát chéo việc sử dụng vốn, nhắc nhở nhau trả nợ đúng hạn. Hoạt động của các tổ này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn và xây dựng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư.

IV. Các chương trình tín dụng NHCSXH cốt lõi cho hộ nghèo

Hoạt động tín dụng NHCSXH tại Ninh Bình được triển khai thông qua nhiều chương trình mục tiêu, đáp ứng đa dạng nhu cầu của các đối tượng chính sách. Chương trình cho vay hộ nghèo là chương trình xương sống, chiếm tỷ trọng lớn nhất, nhằm cung cấp vốn cho sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống. Bên cạnh đó, chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đã giúp hàng chục nghìn em được tiếp tục con đường học vấn. Chương trình cho vay giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động đã mở ra cơ hội mới cho hàng nghìn lao động. Đặc biệt, chương trình Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, nâng cao sức khỏe cộng đồng. Gần đây, các chương trình như cho vay hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, cho vay nhà ở xã hội tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Giai đoạn 2008-2013, tổng doanh số cho vay của chi nhánh đạt hàng nghìn tỷ đồng, minh chứng cho quy mô và tầm ảnh hưởng sâu rộng của tín dụng chính sách đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.

4.1. Phân tích hoạt động cho vay hộ nghèo giai đoạn 2008 2013

Trong giai đoạn 2008-2013, chương trình cho vay hộ nghèo là trọng tâm trong hoạt động của NHCSXH Ninh Bình. Nguồn vốn được tập trung đầu tư cho các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Vốn vay đã giúp hơn 25 nghìn hộ nghèohộ cận nghèo có điều kiện đầu tư vào chăn nuôi, trồng trọt, phát triển kinh tế gia đình. Dư nợ bình quân trên một hộ đã tăng dần qua các năm, cho thấy ngân hàng đã từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn thực tế. Hiệu quả từ đồng vốn được thể hiện rõ khi giúp giải quyết việc làm cho trên 6 nghìn lao động, xóa hơn 1 nghìn căn nhà dột nát. Việc triển khai hiệu quả chương trình này là nhân tố quyết định góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm nhanh và bền vững, thực hiện thành công các mục tiêu xóa đói giảm nghèo đã đề ra.

4.2. Huy động và quản lý nguồn vốn cho vay một cách hiệu quả

Để đảm bảo hoạt động cho vay, NHCSXH Ninh Bình đã thực hiện tốt công tác huy động vốn. Nguồn vốn chủ yếu đến từ nguồn vốn cân đối từ Trung ương. Bên cạnh đó, chi nhánh đã tích cực huy động vốn từ ngân sách địa phương và đặc biệt là huy động tiền gửi tiết kiệm trong cộng đồng dân cư thông qua các Tổ TK&VV. Đến năm 2012, nguồn vốn huy động của các Tổ TK&VV đạt 28,93 tỷ đồng. Việc huy động tại chỗ không chỉ tạo thêm nguồn lực cho vay mà còn giúp người dân hình thành thói quen tiết kiệm, nâng cao ý thức trách nhiệm với đồng vốn vay. Công tác quản lý vốn được thực hiện chặt chẽ thông qua quy trình nghiệp vụ rõ ràng, công khai, minh bạch. Việc giải ngân, thu nợ, thu lãi đều được thực hiện tại các điểm giao dịch xã, dưới sự giám sát của chính quyền và các tổ chức đoàn thể, đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích và thu hồi đầy đủ.

V. Tác động thực tiễn của tín dụng NHCSXH đến an sinh xã hội

Hiệu quả của tín dụng NHCSXH không chỉ đo lường bằng những con số về dư nợ hay doanh số cho vay, mà quan trọng hơn là những tác động tích cực và sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội tại Ninh Bình. Nguồn vốn ưu đãi đã thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Hàng chục nghìn gia đình đã có cơ hội thoát nghèo, con em họ được đến trường, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc với những công trình nước sạch, vệ sinh môi trường được xây dựng. Chính sách tín dụng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành nhiều mô hình kinh tế hiệu quả. Quan trọng hơn, nó đã khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, thay đổi tư duy làm ăn của người nghèo. Họ không còn trông chờ, ỷ lại mà chủ động tìm kiếm cơ hội, sử dụng đồng vốn để vươn lên bằng chính sức lao động của mình. Đây là thành quả lớn nhất và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc nhất của chương trình tín dụng chính sách.

5.1. Thống kê số hộ thoát nghèo và cải thiện đời sống nhân dân

Số liệu là minh chứng rõ ràng nhất cho hiệu quả của chương trình. Trong 10 năm hoạt động tính đến 2012, đã có gần 47.000 hộ tại Ninh Bình thoát nghèo nhờ nguồn vốn ưu đãi từ NHCSXH. Vốn vay đã hỗ trợ gần 48 nghìn công trình nước sạch và vệ sinh môi trường, góp phần cải thiện sức khỏe và điều kiện sống cho người dân nông thôn. Chương trình tín dụng học sinh, sinh viên đã giúp cho hơn 44.000 em có chi phí học tập, theo đuổi ước mơ. Hơn 15.000 lao động được tạo việc làm mới. Những con số này không chỉ phản ánh hiệu quả kinh tế mà còn cho thấy tác động to lớn về mặt xã hội, góp phần xây dựng một xã hội ổn định, công bằng và phát triển bền vững.

5.2. Những thành tựu và hạn chế còn tồn tại cần khắc phục

Thành tựu lớn nhất là việc xây dựng được một mô hình cung cấp tín dụng chính sách hiệu quả, xã hội hóa cao, đưa đồng vốn đến đúng đối tượng thụ hưởng. Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao, tỷ lệ nợ quá hạn được kiểm soát ở mức thấp (chỉ chiếm 0,27% tổng dư nợ tính đến năm 2012). Tuy nhiên, một số hạn chế vẫn tồn tại. Như đã đề cập, tình trạng nợ xấu, xâm tiêu vốn ở một vài nơi vẫn còn. Mức cho vay đối với một số chương trình còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. Công tác phối hợp lồng ghép giữa tín dụng với khuyến nông, chuyển giao kỹ thuật đôi khi chưa đồng bộ. Việc nâng cao năng lực quản lý cho các Ban quản lý Tổ TK&VV và cán bộ hội, đoàn thể cấp cơ sở vẫn là một yêu cầu cần được quan tâm thường xuyên để nâng cao hơn nữa hiệu quả của nguồn vốn.

VI. Bí quyết nâng cao hiệu quả tín dụng NHCSXH tại tỉnh Ninh Bình

Để phát huy hơn nữa vai trò của tín dụng NHCSXH trong công cuộc xóa đói giảm nghèo giai đoạn mới, việc đúc kết kinh nghiệm và đề ra các giải pháp chiến lược là vô cùng cần thiết. Kinh nghiệm từ các địa phương thành công như Đà Nẵng, Bắc Ninh cho thấy tầm quan trọng của việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao chất lượng hoạt động ở cấp cơ sở. Bí quyết cốt lõi nằm ở việc củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới Tổ tiết kiệm và vay vốn, coi đây là "nền móng" của cả hệ thống. Đồng thời, cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng với cấp ủy, chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội. Việc lồng ghép hiệu quả hoạt động tín dụng với các chương trình khuyến nông, khuyến công, chuyển giao khoa học kỹ thuật sẽ giúp người vay sử dụng vốn hiệu quả hơn. Cuối cùng, việc đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ ngân hàng và cán bộ làm công tác ủy thác là yếu tố then chốt để đảm bảo chính sách được thực thi một cách chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả.

6.1. Hoàn thiện mạng lưới và cải tiến quy trình cho vay ưu đãi

Giải pháp hàng đầu là tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các điểm giao dịch xã và các Tổ TK&VV. Cần thường xuyên rà soát, kiện toàn các tổ hoạt động yếu kém; đồng thời tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các tổ trưởng về kỹ năng quản lý, ghi chép sổ sách. Về quy trình, cần nghiên cứu để mức cho vay và thời hạn vay linh hoạt hơn, phù hợp hơn với từng dự án sản xuất, kinh doanh cụ thể của hộ nghèo. Thủ tục vay vốn cần tiếp tục được đơn giản hóa nhưng vẫn đảm bảo sự chặt chẽ, công khai, minh bạch trong khâu bình xét. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý để giảm thiểu sai sót và nâng cao hiệu quả giám sát.

6.2. Bài học kinh nghiệm từ Đà Nẵng và Bắc Ninh cho Ninh Bình

Nghiên cứu kinh nghiệm từ các tỉnh bạn là rất cần thiết. Tại Đà Nẵng, bài học về việc kiểm soát nợ quá hạn thông qua kiểm tra chéo, xử lý nghiêm các trường hợp xâm tiêu vốn là kinh nghiệm quý báu. Tại Bắc Ninh, thành công đến từ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp đồng bộ và việc lồng ghép tín dụng vào các dự án phát triển kinh tế cụ thể của các hội, đoàn thể. Từ đó, Ninh Bình có thể học hỏi và vận dụng: cần tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; gắn trách nhiệm của các tổ chức nhận ủy thác với kết quả xóa đói giảm nghèo trên địa bàn; đồng thời, chủ động tìm kiếm các mô hình kinh tế hiệu quả để đầu tư vốn, giúp người nghèo thoát nghèo một cách bền vững thay vì chỉ cho vay đơn thuần.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh ninh bình chính trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luâ ̣n văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng của NHCSXH đối với việc xóa đói giảm nghèo. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng của NHCSXH đối với việc xóa đói giảm nghèo ở Ninh Bình. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng của NHCSXH đối với công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Ninh Bình. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI VIỆC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1.

TỔNG QUAN VỀ NGHÈ O ĐÓI VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HỖ TRỢ VỐN CHO NGƢỜI NGHÈO 1. Tổng quan về nghèo đói 1. Khái niệm về đói nghèo Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói, tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức vào tháng 09/1993 tại Thái Lan đã thống nhất cho rằng “Nghèo là thực trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con ngƣời, mà những nhu cầu này đƣợc xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phƣơng”.

Đây là một khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng, trong đó có Việt Nam. Nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ, nhƣ giáo dục, văn hóa, thuốc men, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trƣờng hiệu quả, trong đó có các thị trƣờng đất đai, vốn và lao động cũng nhƣ các thể chế nhà nƣớc đƣợc cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng nhƣ một môi trƣờng kinh doanh thuận lợi. Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng. Các tiêu chí về đói nghèo Để xác định mức độ đói, nghèo ngƣời ta thƣờng dựa trên mức thu nhập hoặc mức chi tiêu.

Một ngƣời đƣợc coi là đói, nghèo nếu mức độ chi tiêu hoặc 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thu nhập dƣới mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu căn bản. Mức tối thiếu này đƣợc gọi là “ngƣỡng đói nghèo”. Các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản thay đổi theo thời gian và xã hội, do đó, “ngƣỡng đói nghèo” khác nhau theo thời gian, địa điểm và mỗi quốc gia sử dụng các ngƣỡng thích hợp với mức độ phát triển, chuẩn mực và giá trị xã hội của mình. Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lƣờng mức độ nghèo của các hộ dân tại Việt Nam.

Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới. Đại diện của Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội cho biết, số liệu thống kê trên dựa theo tiêu chuẩn mới, cụ thể: Thu nhập hàng tháng của hộ gia đình nghèo là 400.000 đồng trở xuống ở nông thôn và 500.000 đồng trở xuống ở thành thị. Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trong Quyết định của Thủ tƣớng chính phủ Việt Nam số 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08 Tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010, cả nƣớc Việt Nam hiện có khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số. Và đến năm 2011, theo chuẩn nghèo mới, cả nƣớc Việt Nam hiện có khoảng 3 triệu hộ nghèo.

Theo chuẩn trên, nhiều hộ nghèo mặc dù đã thoát nghèo nhƣng vẫn không đủ sống, đời sống khó khăn nên rất nhiều ngƣời muốn còn đƣợc thuộc diện nghèo mãi để tiếp tục đƣợc nhận các khoản hỗ trợ nhƣ vay vốn ƣu đãi. Dù theo cách đánh giá nào đi nữa thì bộ phận dân nghèo ở Việt Nam hiện nay còn khá lớn. Vì có nhiều nguyên nhân khác nhau nên chúng ta cần phải đứng trên nguyên nhân của từng hộ gia đình để đƣa ra biện pháp hỗ trợ hiệu quả. Nguyên nhân nghèo đói Nghèo đói là hậu quả đan xen của nhiều nhóm các yếu tố, nhƣng chung quy lại thì có thể chia nguyên nhân đói nghèo của nƣớc ta theo các nhóm sau: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com a) Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo - Thiếu vốn sản xuất: Các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên nhân chủ yếu nhất.

Nông dân thiếu vốn thƣờng rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất kém, làm không đủ ăn, phải đi thuê, đi vay để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày. Có thể nói: Thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển của sản xuất và nâng cao đời sống của các hộ gia đình nghèo. Kết quả điều tra xã hội học về nguyên nhân nghèo đói của các hộ nông dân ở nƣớc ta năm 2001 cho thấy: Thiếu vốn chiếm khoảng 70% - 90% tổng số hộ đƣợc điều tra. - Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn: Phƣơng pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức, sản xuất tự cung tự cấp là chính, thƣờng sống ở những nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phƣơng tiện, con cái thất học,… Những khó khăn đó làm cho hộ nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí, không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác, thiếu kinh nghiệm và trình độ sản xuất kinh doanh đẫn đến năng xuất thấp, không hiệu quả.

- Thiếu sức khỏe: Bệnh tật và sức khoẻ yếu kém cũng là yếu tố đẩy con ngƣời vào tình trạng nghèo đói trầm trọng. - Thiếu tài nguyên: Đất canh tác ít, tình trạng không có đất canh tác đang có xu hƣớng tăng lên. - Thiếu việc làm, thiếu sự chủ động trong việc tìm kiếm việc làm. Mặt khác do hậu quả của chiến tranh dẫn đến nhiều ngƣời dân bị mất sức lao động, nhiều phụ nữ bị góa phụ dẫn tới thiếu lao động hoặc thiếu lao động trẻ, khỏe có khả năng đảm nhiệm những công việc nặng nhọc.

10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com b) Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên xã hội. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nghèo. Ở những vùng khí hậu khắc nghiệt : thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, đất đai cằn cỗi, diện tích canh tác ít, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu hoặc không có là những vùng có nhiều hộ nghèo đói nhất. Sự cần thiết phải hỗ trợ vố n để xóa đói giảm nghèo Đói nghèo là hiện tƣợng phổ biến của nền kinh tế thị trƣờng và tồn tại khách quan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển.

Đặc biệt đối với nƣớc ta, quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng t ừ xuất phát điểm nghèo nàn lạc hậu dẫn đến tình trạng đói nghèo không thể tránh khỏi. Nhƣ vậy, hỗ trợ ngƣời nghèo trƣớc hết là mục tiêu của xã hội. Xóa đói giảm nghèo sẽ hạn chế đƣợc các tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Ngƣời nghèo đƣợc hỗ trợ để tự vƣơn lên, tạo thu nhập, từ đó làm tăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển.

Chính vì vậy, quan điểm cơ bản của chiến lƣợc phát triển xã hội mà Đảng ta đã đề ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. XĐGN là một bộ phận trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các quốc gia trên thế giới, đó cũng là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Xoá đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế Nghèo đói đi liền với lạc hậu và là trở ngại lớn đối với sự phát triển. Nói cách khác, XĐGN sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển, ngƣợc lại tăng trƣởng kinh tế gắn với công bằng xã hội là nhân tố đảm bảo thành công trong công tác XĐGN.

11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xóa đói giảm nghèo đối với vấn đề chính trị - xã hội. Nghèo đói là nguyên nhân quan trọng làm phát sinh các tệ nạn xã hội nhƣ trộm cắp, cƣớp giật, ma tuý, mại dâm. đi đôi với nó là sự tăng dân số, suy giảm thể lực, trí lực. Nếu nghèo đói không đƣợc chú ý giải quyết, tỷ lệ và cấp độ của nghèo đói vƣợt quá giới hạn an toàn sẽ dẫn đến hậu quả về mặt chính trị, ở mức cao hơn là khủng hoảng chính trị, là môi trƣờng thuận lợi cho âm mƣu “diễn biến hoà bình” và “chiến tranh biên giới mềm” của các thế lực thù địch.

Tóm lại, hỗ trợ ngƣời nghèo là một tất yếu khách quan. Xuất phát từ lý do của sự đói nghèo có thể khẳng định rằng: mặc dù kinh tế đất nƣớc có thể tăng trƣởng nhƣng nếu không có chính sách và chƣơng trình riêng về XĐGN thì các hộ gia đình nghèo không thể thoát ra khỏi đói nghèo. Chính vì vậy, Chính phủ đã đề ra những chính sách đặc biệt trợ giúp ngƣời nghèo, nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa giàu và nghèo. Sau 10 năm thực hiện “Chiến lƣợc toàn diện về tăng trƣởng và xóa đói, giảm nghèo” (2002-2013) và 5 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ- CP của Chính phủ về “Chƣơng trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo nhất trong cả nƣớc (2008-2013), Việt Nam đã đạt đƣợc những kết quả đáng mừng trong công tác xóa đói giảm nghèo.

Theo Báo cáo Đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012 mới công bố của Ngân hàng thế giới World Bank, hơn 30 triệu ngƣời Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo trong hai thập kỷ qua. Nghèo đói ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng từ 60% hồi đầu những năm 1990 xuống 20,7% trong năm 2010. Việt Nam đã đạt đƣợc tỷ lệ nhập học tiểu học và trung học cơ sở cao, lần lƣợt hơn 90% và 70%. Theo đánh giá gần đây nhất của Tổ chức Nông lƣơng Liên Hợp Quốc FAO, Việt Nam là một trong những nƣớc đạt đƣợc thành tích nổi bật trong 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ