ĐẶT VẤN ĐỀ Ngành dƣợc liệu Việt Nam là một ngành rất quan trọng, nhận thấy rõ ngành này rất phát triển. Phải nhìn nhận lại vai trò của dƣợc liệu trong phạm vi quốc gia, từng địa phƣơng và từng ngành, lĩnh vực, đặc biệt là ngành y tế để chú trọng phát triển. Phát triển công nghiệp dƣợc với nguyên liệu là dƣợc liệu trong nƣớc phải là một chiến lƣợc của ngành y tế. Bộ Y tế mở rộng Danh mục dƣợc liệu, thuốc cổ truyền, thuốc dƣợc liệu thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế.
Đƣợc biết cây Đƣơng quy là một loài thuốc quý, đông dƣợc có giá trị, có rất nhiều tác dụng chữa bệnh cho con ngƣời. Cây Đƣơng quy có tên khoa học là (Angelica acutiloba (Sieb.Zucc) thuộc họ Hoa tán. Tác dụng của cây rất tốt, là thuốc đầu vị chữa các bệnh của phụ nữ, đồng thời dùng nhiều trong các đơn thuốc bổ và thuốc chữa các bệnh khác. Tuy vậy ở Việt Nam chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu gây trồng, kỹ thuật trồng cây Đƣơng quy còn khá sơ sài và chƣa nghiên cứu gắn với từng địa phƣơng, địa hình cụ thể cụ thể, nên cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thành quy trình, với các biện pháp để cho năng suất cao.
Vài năm trở lại, việc phát triển đƣơng quy cũng nằm trong quy hoạch của Chính phủ về kế hoạch phát triển ngành đông dƣợc Việt Nam. Qua nghiên cứu thực địa một số huyện nhƣ Bắc Hà, Sa Pa thuộc Tỉnh Lào Cai… nhiệt độ, thổ nhƣỡng, địa hình khá phù hợp với loài cây Đƣơng quy. Năm 2016 tiếp tục thực hiện dự án phát triển cây dƣợc liệu giai đoạn 2014-2020, huyện Bắc Hà sẽ trồng 37 ha, trong đó có 14 ha cây atiso, 19 ha cây đƣơng quy, 4 ha cây đan sâm tại 4 xã trong vùng dự án là: Bản Già, Lùng Phình, Na Hối,. Đây là cơ hội tốt để bà con có thêm một cây trồng mới cho thu nhập khá hơn cây truyền thống, lợi thế ấy đang đƣợc kì vọng sẽ tạo việc làm, tăng thu nhập cho bà con và đẩy nhanh công cuộc xóa đói giảm nghèo trên địa bàn.
Xã Bản Già, một trong những xã nghèo nhất huyện Bắc Hà. Bản Già có 234 hộ mà đến 175 hộ thuộc diện hộ nghèo. bà con chủ yếu là dân tộc Mông. 1 Từ năm 2016, theo chủ trƣơng của huyện, Bản Già đƣợc quy hoạch diện tích hơn 4ha trồng dƣợc liệu.
Nhờ phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhƣỡng, đƣợc chăm sóc chu đáo, cây dƣợc liệu đƣơng quy phát triển khá tốt, cho thu nhập cao gấp 3-4 lần so với sản xuất ngô, lúa. Mặc dù diện tích còn khiêm tốn nhƣng đây là hƣớng đi mới và là cây mang lại thu nhập cao nhất cho xã tính đến nay. Đến nay, các vùng trồng dƣợc liệu đang tạo ra nhiều chuyển biến tích cực cho các cho địa phƣơng trong xã, đặc biệt là các xã vùng cao. Hiện tại, toàn huyện Bắc Hà đã có trên 100 hộ dân tham gia trồng cây dƣợc liệu.
Theo đề án phát triển cây dƣợc liệu của tỉnh Lào Cai đến năm 2020, huyện Bắc Hà sẽ có trên 84 ha là cây dƣợc liệu, góp phần tạo công ăn việc làm cho ngƣời dân và phát triển kinh tế xã hội của huyện. Từ những vấn đề trên tôi đã tiến hành triển khai đề tài „„Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng Đƣơng quy (Angelica sinensis (Sieb.Zucc) tại xã Bản Già, huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai‟‟. Mục đích của việc lựa chọn đề tài với hi vọng nghiên cứu đƣợc thực trạng gây trồng loài cũng nhƣ tìm hiểu đƣợc kĩ thuật nhân giống, chăm sóc cây, và tác dụng của Đƣơng Quy đến đời sống, từ đó đƣa ra đƣợc những giải pháp với mục đích bảo tồn và phục vụ các nhu cầu sử dụng dƣợc liệu này một cách chủ động và bền vũng trong tƣơng lai, giúp ngƣời dân có một hƣớng đi mới cải thiện cuộc sống. 2 PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới Trong cuốn „Lịch sử liên đại cây cỏ‟ ấn hành năm 1878. Charles Pikering đã chỉ rõ : ngay từ năm 4271 trƣớc công nguyên ngƣời dân khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây (sung, vả, cau dừa,.) để làm lƣơng thực và chữa bệnh. Dựa trên các bằng chứng khảo cổ , Borisova B.(1960) chỉ ra rằng, vào khoảng 5.000 năm trƣớc công nguyên, cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêu chiếm đoạt (cùng phụ nữ và lƣơng thực, cây có hoa đẹp) trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Nhƣ vậy tầm quan trọng của các cây thuốc quý đƣợc thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh.
Châu Úc đƣơc mệnh danh là cái nôi của nên văn minh cổ xƣa nhất trên thế giới, các thổ dân châu úc đã định cƣ ở đây từ 60.000 năm về trƣớc và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài cây thuốc bản xứ. Nhiều loài trong số này nhƣ cây bạch xà xanh (Eucalyptus globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn đƣợc sử dụng rất hữu kí hiệu trong việc chữa bệnh. Ngƣời đầu tiên phải kể đến là alen (131-200 sau công nguyên) , một thầy thuốc của Hoàng đế La mã , có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và đã đƣợc áp dụng trong nghành Y châu âu hơn 1500 năm.
Khoảng thế kỉ XI sau công nguyên, tại Scotlan các thầy tu đã sử dụng cây thuốc Phiện và cây cần sa để làm thuốc giảm đau và thuốc gây mê. Sau này , Nicholas Culpeper (1616-1654) đã kế thừa một số kiếm thức từ họ và kinh nghiệm chữa bệnh của thầy thuốc địa phƣơng, ông đã cho xuất bản cuốn sách bán chạy nhất và đƣợc tái bản nhiều lần. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới – WHO năm 1985, trong số 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng nhƣ bậc cao đã biết, có gần 20.000 loài thực 3 vật đƣợc sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc. Hiện nay số loài cây đƣợc sử dụng trên thế giới ƣớc tính từ 30.
Trong đó, ở vùng nhiệt đới Châu Á có khoảng 6.500 loài, ở Ấn độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc trên 5.000 loài, riêng về thực vật có hoa ở 1 vài nƣớc Đông Nam Á đã có tới 2.000 loài lá cây thuốc, vùng nhiệt đới âu mỹ hơn 1. Nói đến Châu Á thì không thể không nhắc tới Trung Quốc và Ấn Độ. Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng cây cỏ tự nhiên để làm thuốc chữa bệnh, theo ƣớc tính có khoảng 1000 loài thực vật đã đƣợc ngƣời Trung Quốc sử dụng thành thuốc chữa bệnh. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam Việt Nam là nƣớc nằm sát bên cái nôi của Y học nhân loại nên chúng ta ít nhiều kế thừa đƣợc những kinh nghiệm dân gian về y học Trung Quốc.
Ngoài ra, Việt Nam là một đất nƣớc có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại có một nền văn hóa riêng, kinh nghiệm chữa bệnh riêng. Điều đó càng làm phong phú kho tàng thuốc dân tộc của chúng ta. Y học cổ truyền Việt Nam có nhiều bài thuốc chữa các bệnh có hiệu quả, qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinh nghiệm dân gian đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị lƣu truyền rộng rãi trong nhân dân. Tài liệu cổ về cây thuốc hiện còn lại không nhiều tuy nhiên có thể coi 2838 trƣớc công nguyên là năm hình thành bộ môn nghiên cứu cây thuốc và dƣợc liệu.
Vào năm này Thần nông viết cuốn „Bản thảo đầu tiên‟. Năm 1595 trƣớc công nguyên, Lý Thời Trân thu gom tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc và dƣợc liệu từ trƣớc soạn quyển „Bản thảo cƣơng mục‟. Đây là cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực này, trong tài liệu ông mô tả và giới thiệu 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ, ngoài ra còn giới thiệu 798 vị thuốc từ động vật và khoáng vật. Ngay từ thời Vua Hùng dựng nƣớc (2900 năm trƣớc công nguyên) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại việt sử ký ngoại ký, Lĩnh năm chích quái 4 liệt truyện, Long úy bí thƣ,…) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh.
Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là „Nam thần dƣợc hiệu‟ và „Hồng nghĩa giác tƣ y nhƣ‟ của Tuệ Tĩnh. Trong tài liệu này đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng hàn. Ông đƣợc coi là một bậc kì tài trong lịch sử y học nƣớc ta, là „Vi thánh thuốc Việt Nam‟. Ông đã để lại nhiều bộ sách quý cho đời sau nhƣ : „Tuệ tĩnh y thƣ‟, „Thập tam phƣơng gia giảm‟ , „Thƣơng hàn tam thập thất trùng pháp‟.
Tới thế kỷ XVIII, Hải thƣợng lãn ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn thứ 2 „Y tông Tâm tĩnh‟ cho nƣớc ta. Bộ sách gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc đƣợc giải phóng năm 1954 đáng chú ý nhất là năm 1957, Đỗ Tất Lợi đã biên soạn bộ „Dƣợc liệu học và các vị thuốc Việt Nam‟ gồm 3 tập. Năm 1961 tái bản in thành tập, mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam.
Từ năm 1962- 1965 Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ „Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam‟ gồm có 6 tập. Trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật. Trong đó, Ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các nhóm bệnh khác nhau. Đây đã trở thành kim chỉ nam quý giá của rất nhiều thầy thuốc và là ngƣời bác sĩ không thể thiếu cho gia đình, là 1 bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữ khoa học dân gian và khoa học hiện đại.
Năm 1960, Phạm Hoàng Bộ và Nguyễn Văn Dƣơng cho xuất bản bộ „ Cây cỏ Việt Nam‟. Tuy chƣa giới thiệu đƣợc hết hệ thực vật Việt Nam, nhƣng phần nào cũng đƣa ra đƣợc công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật.