Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Tiểu thuyết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội trong văn xuôi miền Bắc giai đoạn 1960-1975" do nghiên cứu sinh Đoàn Đức Hải thực hiện tại Đại học Thái Nguyên vào năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Mạnh Hùng, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số đào tạo: 62.21). Luận án được triển khai theo hướng nghiên cứu định tính, tập trung vào thi pháp học thể loại và xã hội học văn học.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Giai đoạn 1960-1975 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, mở đầu bằng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (năm 1960) với việc đề ra Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Trong hoàn cảnh lịch sử thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược — kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam và xây dựng hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc — mảng văn xuôi viết về đề tài cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã phát triển với quy mô đáng kể (khoảng 50 cuốn tiểu thuyết của 30 tác giả).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án chỉ ra gồm hai điểm chính:
- Trong một thời gian dài, giới nghiên cứu và lý luận phê bình ít quay trở lại khảo sát một cách toàn diện mảng tác phẩm này; hoặc nếu có xem xét thì phần lớn tiếp cận từ góc độ xã hội học dung tục, mang nặng tính quy chụp chính trị một chiều, chưa đi sâu vào cấu trúc thể loại và đặc trưng thi pháp của tiểu thuyết.
- Dưới ánh sáng của công cuộc Đổi mới từ năm 1986 (với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật") và sự kiện tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sau năm 1990, các tác phẩm viết về thời kỳ này cần được thẩm định lại trên cả hai mặt thành tựu và hạn chế, đồng thời giải tỏa những đánh giá bất công đối với một số tác phẩm từng bị xem là "lệch chuẩn" hay "có vấn đề".
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là nhận diện một cách khách quan, khoa học cả thành tựu lẫn hạn chế của tiểu thuyết viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc giai đoạn 1960-1975; qua đó xác định các tiêu chí thể loại của mô hình tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa thời kỳ này.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được tác giả xác định thành 4 nội dung:
- Khảo sát hệ thống tiểu thuyết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc giai đoạn 1960-1975; tham khảo, đối chiếu với các tiểu thuyết giai đoạn trước và sau mốc 1960-1975 cũng như mảng tiểu thuyết chiến tranh cách mạng cùng thời kỳ.
- Làm rõ các vấn đề liên quan đến phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa và tác động của phương pháp này đối với tiểu thuyết giai đoạn khảo sát.
- Phân tích các yếu tố cơ bản về phương diện cảm hứng, chất liệu phản ánh, thế giới nhân vật và các bình diện nghệ thuật (kết cấu, xung đột, xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu).
- Đánh giá thành tựu, hạn chế và thẩm định lại những đóng góp của một số tác phẩm từng bị phê phán, chỉ ra những dấu hiệu mang tính chất "tiên báo" của nhóm tác phẩm này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các tiểu thuyết viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội trong văn xuôi miền Bắc giai đoạn 1960-1975.
- Phạm vi khảo sát: Khoảng 50 tác phẩm của 30 tác giả tiêu biểu (Chu Văn, Nguyễn Khải, Đào Vũ, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Võ Huy Tâm, Hà Minh Tuân, Nguyễn Kiên, Huy Phương, Lê Phương, Ma Văn Kháng...). Đồng thời, luận án đối chiếu mở rộng với tiểu thuyết chiến tranh cách mạng cùng thời kỳ (Dấu chân người lính, Vùng trời, Hòn Đất, Cửa sông...) và các tiểu thuyết giai đoạn 1945-1960 cũng như thời kỳ sau 1975.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án phân chia lịch sử nghiên cứu vấn đề thành hai giai đoạn rõ rệt, lấy mốc năm 1986 làm ranh giới:
Giai đoạn 1960-1986
Đây là giai đoạn văn học và lý luận phê bình vận hành theo nguyên tắc của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa.
- Các nhà nghiên cứu và công trình lý luận - phê bình tiêu biểu:
- Như Phong với tập Bình luận văn học (1964).
- Hoài Thanh với Phê bình và tiểu luận (tập 2 và 3, 1965-1971).
- Nam Mộc với Noi theo đường lối văn nghệ Mác Lênin của Đảng (1968).
- Phan Cự Đệ với Cuộc sống và tiếng nói của nghệ thuật (1971), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (2 tập, 1974 và 1975).
- Phong Lê với Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam 1945-1970 (1972), Văn và người (1976), Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa (1980).
- Vũ Đức Phúc với Trên mặt trận văn học (1976).
- Hà Minh Đức với Nhà văn và tác phẩm (1979).
- Nguyễn Đăng Mạnh với Nhà văn - tư tưởng và phong cách (1979).
- Các công trình tập thể của Viện Văn học: Tác gia văn xuôi Việt Nam hiện đại (1976), Văn học về đề tài công nhân (tập 1, 1983), bộ sách Nhà văn Việt Nam (1978-1983) của Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức.
- Đặc điểm đánh giá thời kỳ này: Phê bình chủ yếu tập trung khẳng định tính Đảng, phản ánh "con người mới - cuộc sống mới", xây dựng nhân vật tích cực và nguyên tắc điển hình hóa. Đồng thời, giai đoạn này xuất hiện những đợt phê phán gay gắt đối với các tác phẩm bị coi là "tai nạn nghề nghiệp" như Vào đời của Hà Minh Tuân (bài viết của Nguyễn Phan Ngọc và bài ký bút danh Trung Ngôn trên Tạp chí Văn học số 8-1963), Những người thợ mỏ của Võ Huy Tâm (ý kiến phê phán của Trường Chinh tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III năm 1962), cùng các tác phẩm viết về sửa sai như Những ngày bão táp (Hữu Mai), Thôn Bầu thắc mắc (Sao Mai), Sắp cưới (Vũ Bão), Mở hầm (Nguyễn Dậu).
Giai đoạn sau 1986
Dưới tác động của đường lối Đổi mới, giới nghiên cứu tiến hành đánh giá lại lịch sử văn học:
- Các kỷ yếu hội thảo khoa học:
- 50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996, 366 trang, 36 tham luận).
- Việt Nam nửa thế kỷ văn học (Nxb Hội Nhà văn, 1997, 486 trang, 52 tham luận).
- Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học (Viện Văn học, 1999, 762 trang, 30 bài).
- Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX (Viện Văn học, 2002, 1088 trang, 62 bài).
- Các giáo trình và chuyên khảo:
- Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập III) (Nxb Đại học Sư phạm, 2002, 2004) do Nguyễn Đăng Mạnh và Nguyễn Văn Long chủ biên.
- Tiếp cận và định giá văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (2001) của Nguyễn Văn Long.
- Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lý luận (2004) do Phan Cự Đệ chủ biên.
- Từ điển tác gia văn xuôi Việt Nam (tập 2 năm 2006, tập 3 tóm tắt trên 300 tác phẩm) của Viện Văn học.
- Lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam thế kỷ XX (2009) của Nguyễn Văn Tùng.
- Hiện đại hóa và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ XX (2009) và Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX (2013) của Phong Lê.
- Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Lý luận - phê bình 1945-1975) (Quyển 5, tập X, Nxb Văn học, 2009, 1030 trang).
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Mặc dù các công trình sau 1986 đã mở rộng diện mạo lịch sử, nhưng phần lớn khảo sát toàn cảnh thế kỷ XX hoặc tập trung vào đề tài chiến tranh. Luận án của Đoàn Đức Hải định vị chuyên biệt vào mảng tiểu thuyết xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc 1960-1975, phân tích có hệ thống cấu trúc thi pháp và đánh giá lại một cách khoa học những tác phẩm từng bị phê bình quy chụp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa: Luận án khảo sát các nguyên tắc cốt lõi: tính Đảng cộng sản, phản ánh hiện thực trong quá trình phát triển cách mạng, nguyên tắc xây dựng điển hình (tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình), và sự định hướng thẩm mỹ về hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa.
- Lý thuyết về nội dung thể tài của G. N. Pospelov: Vận dụng cách phân loại ba nhóm nội dung thể tài cơ bản trong văn học hiện đại gồm: thể tài lịch sử dân tộc (cảm hứng anh hùng ca/sử thi), thể tài thế sự (cảm hứng hiện thực phê phán), và thể tài đời tư (cảm hứng lãng mạn). Luận án chứng minh sự chi phối áp đảo của thể tài lịch sử dân tộc đối với thể tài thế sự và đời tư trong giai đoạn 1960-1975.
- Lý thuyết thi pháp học thể loại tiểu thuyết: Tập trung vào các bình diện không gian - thời gian nghệ thuật, hệ thống mô típ miêu tả, cấu trúc xung đột, phương thức xây dựng tính cách nhân vật, ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu nghệ thuật.
- Hệ thống văn kiện lãnh đạo văn nghệ của Đảng: Khảo sát các văn kiện từ Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943), báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) của Trường Chinh, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), Thư của Ban Chấp hành Trung ương gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ IV (1968), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV (1976), đến Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận xã hội học văn học: Xem xét tác phẩm trong mối quan hệ với đường lối chính trị, chỉ thị của Đảng và bối cảnh kinh tế - xã hội miền Bắc.
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Lấy văn bản tác phẩm làm trung tâm khảo sát để phân tích cấu trúc thể loại, các thủ pháp nghệ thuật, hệ thống nhân vật và điểm nhìn trần thuật.
- Phương pháp lịch sử - cụ thể - biện chứng: Đặt tác phẩm vào cả hai trục đồng đại (so sánh giữa các tác phẩm cùng thời kỳ) và lịch đại (đối chiếu trước 1960 và sau 1986).
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh giữa mảng tiểu thuyết xây dựng chủ nghĩa xã hội với tiểu thuyết chiến tranh cách mạng; giữa các tác phẩm được biểu dương với các tác phẩm bị phê phán.
- Phương pháp thống kê - phân loại: Khảo sát danh mục tác phẩm, phân loại theo năm xuất bản, đề tài (nông thôn, công nghiệp, vùng cao, tôn giáo) và thống kê tần suất các mô típ, thủ pháp nghệ thuật.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Văn bản của hơn 50 cuốn tiểu thuyết xuất bản từ 1960 đến 1975; hệ thống bài viết phê bình trên các báo và tạp chí (Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, Tạp chí Văn học); các văn kiện Đại hội Đảng và Đại hội văn nghệ toàn quốc; các tập chuyên luận và kỷ yếu hội thảo văn học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu và diện mạo văn xuôi miền Bắc giai đoạn 1960-1975
Chương 1 tái hiện bối cảnh lịch sử - xã hội và diện mạo nền văn xuôi miền Bắc sau năm 1954 và đặc biệt là giai đoạn 1960-1975.
| Tiêu chí |
Chặng 1945-1960 |
Chặng 1960-1975 |
| Bối cảnh lịch sử |
Kháng chiến chống Pháp (1945-1954); khôi phục kinh tế, cải cách ruộng đất, sửa sai và cải tạo xã hội chủ nghĩa (1954-1960). |
Thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất; cả nước bước vào kháng chiến chống Mỹ; miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu. |
| Đường lối văn nghệ |
Xác lập đường lối văn nghệ dân tộc - khoa học - đại chúng; phương châm đại chúng hóa, hướng về công nông binh. |
Nghị quyết Đại hội III (1960) yêu cầu nắm vững phương pháp hiện thực XHCN; phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược. |
| Quy mô thể loại |
Ban đầu ưu tiên truyện ngắn, ký sự, tự thuật (Truyện anh hùng và chiến sỹ thi đua); cuối chặng xuất hiện tiểu thuyết dài hơi. |
Nở rộ tiểu thuyết nhiều tập, bề thế; kết hợp sử thi, tâm lý, tính cách, sự kiện và luận đề. |
| Tác phẩm tiêu biểu |
Vùng mỏ (Võ Huy Tâm), Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Con trâu (Nguyễn Văn Bổng), Cái sân gạch (Đào Vũ). |
Xung đột, Tầm nhìn xa (Nguyễn Khải); Bão biển, Đất mặn (Chu Văn); Vụ lúa chiêm (Đào Vũ); Vùng quê yên tĩnh (Nguyễn Kiên); Đất làng (Nguyễn Thị Ngọc Tú). |
Chương này chỉ ra rằng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa giữ vị trí gần như độc tôn trong sáng tác và lý luận phê bình. Tính Đảng được coi là linh hồn của phương pháp sáng tác. Do quan niệm cứng nhắc về tính Đảng và yêu cầu miêu tả hiện thực cách mạng luôn theo chiều hướng đi lên, nền phê bình thời kỳ này đã tạo ra sự kiểm soát gắt gao, dẫn đến hiện tượng "tai nạn nghề nghiệp" đối với những tác giả dám phản ánh mặt trái, mâu thuẫn tiêu cực, thói quan liêu, lãng phí hoặc đời sống nội tâm phức tạp của con người.
Chương 2: Những cảm hứng chính gắn với chất liệu phản ánh và thế giới nhân vật trong các khuynh hướng miêu tả của tiểu thuyết
Chương 2 phân tích chiều sâu nội dung của tiểu thuyết thông qua hai bình diện: hệ thống cảm hứng và phân loại thế giới nhân vật.
1. Hệ thống các cảm hứng chủ đạo
- Cảm hứng ngợi ca: Là cảm hứng chủ đạo, gắn liền với chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động sản xuất. Tiểu thuyết ca ngợi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, xây dựng công nghiệp, hầm mỏ, công trường (Bão biển, Vụ lúa chiêm, Xi măng, Những người thợ mỏ). Tác phẩm khẳng định tinh thần làm chủ tập thể, đức hy sinh và niềm tin vào thắng lợi tất yếu của chế độ mới.
- Cảm hứng trữ tình ấm áp: Thể hiện mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa hậu phương lớn miền Bắc và tiền tuyến lớn miền Nam; sự kết hợp giữa nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất, giữa cái chung và cái riêng, tình cảm gia đình và tình yêu Tổ quốc (Chuyện nhà, Gia đình những người đi xa, Cửa sông).
- Cảm hứng phê phán và những "tai nạn nghề nghiệp": Hướng mũi nhọn vào những tiêu cực, trì trệ, bảo thủ, tư tưởng tư hữu của người sản xuất nhỏ, thói quan liêu lãng phí của cán bộ lãnh đạo. Tuy nhiên, khi phê phán chạm vào những bất ổn xã hội mang tính hệ thống, tác phẩm thường bị quy chụp về lập trường tư tưởng (Vào đời, Những người thợ mỏ, Mở hầm).
2. Thế giới nhân vật trong các khuynh hướng miêu tả
- Nhân vật chính diện: Là những "con người mới xã hội chủ nghĩa" — nhân vật trung tâm của văn học. Họ mang phẩm chất tích cực, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, xốc vác, dám nghĩ dám làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân (như Tiệp trong Bão biển, Tuy Kiền trong Tầm nhìn xa, Môn và Thụy trong Xung đột, Vượng và Thức trong Vùng quê yên tĩnh, Thùy trong Cửa sông, Seo Mẩy trong Xa phủ). Hạn chế là nhân vật thường mang tính khái niệm, sơ lược, hành động theo khuôn mẫu định sẵn và ít có đời sống nội tâm phức tạp.
- Nhân vật phản diện: Đại diện cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng, địa chủ cũ, những kẻ đội lốt tôn giáo, hoặc các phần tử thoái hóa, biến chất, lười lao động, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Nhân vật trung gian: Những con người có sự đan xen giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, phản ánh sự giằng co gay gắt giữa tư tưởng tư hữu và ý thức công hữu, giữa cá nhân và tập thể trong giai đoạn chuyển đổi sang mô hình kinh tế mới (tiêu biểu như lão Am trong Cái sân gạch, nhân vật Lũng trong Vùng quê yên tĩnh).
Chương 3: Những phương diện cơ bản của nghệ thuật tiểu thuyết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội giai đoạn 1960-1975
Chương 3 đi sâu khảo sát các bình diện thi pháp nghệ thuật của thể loại tiểu thuyết:
- Kết cấu và điểm nhìn không gian - thời gian:
- Điểm nhìn không gian: Không gian mang tính xã hội - sử thi rộng lớn, gắn liền với các địa bàn sản xuất và xây dựng như cánh đồng hợp tác xã, công trường, nhà máy, nông trường, hầm mỏ, vùng ven biển hay vùng cao biên giới.
- Điểm nhìn thời gian: Thời gian trần thuật chủ yếu là thời gian lịch sử - sự kiện hiện tại, vận động theo tuyến tính một chiều hướng về tương lai tươi sáng, trùng khít với tiến trình phát triển của các kế hoạch nhà nước.
- Mô típ miêu tả: Các mô típ quen thuộc như mô típ họp chi bộ, họp xã viên, mô típ đi thực tế, mô típ lao động khắc phục thiên tai/đắp đê/chống bão, mô típ đấu tranh giữa hai con đường làm ăn tập thể và cá thể.
- Xung đột tiểu thuyết: Mâu thuẫn được tổ chức xoay quanh cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa/tự phát cá thể ở nông thôn và xí nghiệp. Diễn biến xung đột thường căng thẳng ở phần thân bài nhưng luôn có kết thúc tất yếu: cái mới thắng lợi, tập thể chiến thắng cá nhân, kẻ sai lầm nhận ra khuyết điểm hoặc bị xử lý.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Áp dụng nguyên tắc tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình; khắc họa nhân vật qua hành động thực tế và các mối quan hệ xã hội nhiều hơn là miêu tả chiều sâu tâm lý nội tâm; nhân vật mang tính đại diện giai cấp rõ rệt.
- Ngôn ngữ và giọng điệu: Ngôn ngữ tác giả giữ vai trò chủ đạo, mang tính định hướng tư tưởng và phẩm bình xã hội; ngôn ngữ nhân vật mang đậm sắc thái nghề nghiệp và địa phương nhưng đôi khi bị hành chính hóa. Giọng điệu chủ âm là giọng ngợi ca, hào hùng, trang trọng mang tính sử thi, kết hợp với giọng tâm tình, trữ tình chính trị.
Kết quả và những đóng góp mới
- Khái quát toàn diện diện mạo thể loại: Luận án hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về tiểu thuyết đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc giai đoạn 1960-1975 trên cả hai bình diện nội dung phản ánh và cấu trúc thể loại, làm rõ sự tương tác giữa văn học và bối cảnh chính trị - xã hội đương thời.
- Làm rõ các nguồn cảm hứng và loại hình nhân vật: Luận án chỉ ra ba nguồn cảm hứng cốt lõi (ngợi ca, trữ tình, phê phán) và xác lập hệ thống ba loại hình nhân vật (chính diện, phản diện, trung gian), từ đó phân tích cơ chế thể hiện tư tưởng "con người mới" của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa.
- Tổng kết đặc trưng thi pháp tiểu thuyết thời chiến: Luận án đúc kết các phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết giai đoạn này (kết cấu không - thời gian sử thi, xung đột một chiều, nghệ thuật chú trọng hành động hơn nội tâm, giọng điệu ngợi ca chủ âm).
- Nhận diện khách quan hai mặt thành tựu và hạn chế: Dưới ánh sáng Đổi mới, luận án chỉ ra thành tựu trong việc kịp thời ghi lại bước chuyển lịch sử của đất nước, đồng thời phân tích rõ các hạn chế mang tính lịch sử: tính chất minh họa giản đơn, sơ lược, công thức, cái nhìn hiện thực có phần "tô hồng", né tránh bi kịch cá nhân và các mâu thuẫn phức tạp.
- Thẩm định lại các tác phẩm từng bị coi là "có vấn đề": Luận án tái định giá một cách công bằng những tác phẩm từng bị phê phán nghiêm khắc trong quá khứ (Vào đời, Những người thợ mỏ, Mở hầm, Vùng quê yên tĩnh...), khẳng định đây là những tìm tòi dũng cảm, chứa đựng các chi tiết và dự cảm mang tính chất "tiên báo" về sự bất cập của cơ chế quản lý kinh tế hành chính bao cấp và lối tư duy duy ý chí.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở thể loại tiểu thuyết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc trong khung thời gian 1960-1975. Mảng tiểu thuyết về đề tài công nghiệp trong văn bản khảo sát có số lượng và chất lượng nghệ thuật hạn chế hơn so với mảng nông thôn, do đó việc khái quát về hình tượng công nhân chưa đạt độ sâu tương đương mảng nông dân và hợp tác hóa. Các thể loại văn xuôi khác như truyện ngắn, ký sự, bút ký không thuộc đối tượng phân tích chuyên sâu của luận án.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát so sánh đối chiếu giữa tiểu thuyết và các thể loại văn xuôi phi hư cấu (ký, phóng sự, nhật ký) cùng thời kỳ viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Mở rộng nghiên cứu liên giai đoạn, đối chiếu tiểu thuyết đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội 1960-1975 với tiểu thuyết thời kỳ tiền Đổi mới và Đổi mới sau 1986 để thấy rõ tiến trình vận động của tư duy nghệ thuật.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Văn học Việt Nam: Cung cấp nguồn tư liệu thư mục chi tiết về văn xuôi giai đoạn 1960-1975; hệ thống hóa các khái niệm và thao tác phân tích thi pháp tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa.
- Đối với giảng viên đại học, cao đẳng: Làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy các học phần Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, Thi pháp học, Xã hội học văn học và Chuyên đề văn xuôi 1945-1975.
- Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa, tư tưởng: Cung cấp dữ liệu văn bản phản ánh tâm lý xã hội, tư duy quản lý kinh tế và đời sống tinh thần của nhân dân miền Bắc trong giai đoạn xây dựng hợp tác xã và công nghiệp hóa thời chiến.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống tổng quan tài liệu phê bình qua hai giai đoạn trước/sau 1986 (Chương 1) và chương phân tích thế giới nhân vật cùng các phương diện thi pháp tiểu thuyết (Chương 2 và Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu tác phẩm và tập trung vào những tác giả tiêu biểu nào?
Luận án khảo sát danh mục gồm trên dưới 50 tác phẩm tiểu thuyết của khoảng 30 tác giả viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc giai đoạn 1960-1975. Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu được phân tích sâu gồm: Chu Văn (Bão biển, Đất mặn), Nguyễn Khải (Xung đột, Tầm nhìn xa, Chủ tịch huyện), Đào Vũ (Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm, Dải lụa), Nguyễn Kiên (Vùng quê yên tĩnh, Vụ mùa chưa gặt), Ngô Ngọc Bội (Ao làng), Nguyễn Thị Ngọc Tú (Đất làng, Buổi sáng), Võ Huy Tâm (Những người thợ mỏ, Đi lên đi), Hà Minh Tuân (Vào đời), Huy Phương (Xi măng), Lê Phương (Thung lũng Cô tan), Ma Văn Kháng (Xa phủ).
2. Sự khác biệt căn bản trong việc đánh giá mảng tiểu thuyết này trước và sau mốc lịch sử năm 1986 là gì?
- Trước năm 1986: Giới phê bình đánh giá tác phẩm thuần túy dựa trên các tiêu chí chính trị của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa (tính Đảng, ca ngợi thành tích, tinh thần lạc quan, con người mới). Những tác phẩm miêu tả mặt tối, lãng phí, thất bại hay tâm lý cá nhân thường bị phê phán là lập trường lệch lạc.
- Sau năm 1986: Dưới định hướng Đổi mới ("nhìn thẳng vào sự thật"), giới nghiên cứu chuyển sang đánh giá khách quan, khoa học trên cả hai mặt thành tựu và hạn chế; giải tỏa các định kiến chính trị, khẳng định giá trị nghệ thuật và ghi nhận tính chất "tiên báo" của các tác phẩm từng bị coi là có vấn đề.
3. Theo phân tích của luận án, thế giới nhân vật trong tiểu thuyết giai đoạn này được chia thành những nhóm nào?
Thế giới nhân vật được phân chia thành 3 nhóm:
- Nhân vật chính diện: Hiện thân của con người mới xã hội chủ nghĩa, có phẩm chất tích cực, tuyệt đối trung thành với Đảng, xốc vác trong lao động hợp tác và chiến đấu.
- Nhân vật phản diện: Đại diện cho giai cấp bóc lột cũ, phần tử chống đối cách mạng, thoái hóa biến chất, phá hoại công cuộc xây dựng chế độ mới.
- Nhân vật trung gian: Mang cả hai mặt tích cực và tiêu cực, phản ánh sự giằng co phức tạp giữa ý thức tư hữu lâu đời và yêu cầu công hữu hóa tập thể.
4. Những tác phẩm nào trong giai đoạn khảo sát từng bị phê phán nghiêm khắc và nguyên nhân vì sao?
Các tác phẩm tiêu biểu từng bị phê phán gồm Những người thợ mỏ của Võ Huy Tâm (bị phê phán tại Đại hội văn nghệ toàn quốc 1962), Vào đời của Hà Minh Tuân (bị phê phán trên Tạp chí Văn học số 8-1963), Mở hầm của Nguyễn Dậu, cùng các tác phẩm viết về sửa sai trước 1960 (Những ngày bão táp, Thôn Bầu thắc mắc, Sắp cưới). Nguyên nhân do các tác phẩm này đề cập trực diện đến tình trạng lãng phí, tệ quan liêu của cán bộ lãnh đạo, sự bất cập trong tổ chức lao động và những mâu thuẫn nội bộ, đi ngược lại yêu cầu "chỉ miêu tả cái sáng sủa, đi lên" của tư duy phê bình đương thời.
5. Những hạn chế nghệ thuật nổi bật của tiểu thuyết giai đoạn 1960-1975 được luận án chỉ ra là gì?
Các hạn chế nghệ thuật chính gồm:
- Nhân vật xây dựng còn sơ lược, mang tính khái niệm và công thức; nhân vật chính diện thường có những nét hành động và hoàn cảnh tương tự nhau.
- Tác phẩm chú trọng miêu tả hành động thực tế bề ngoài hơn là đào sâu thế giới nội tâm và đời sống riêng tư của con người.
- Cốt truyện và xung đột thường phát triển theo một chiều, kết thúc tất yếu được định sẵn theo hướng lạc quan hóa, đôi khi rơi vào tình trạng giản đơn, tô hồng hiện thực.
- Mảng tiểu thuyết về đề tài công nghiệp hóa còn ít về số lượng, nhân vật lệ thuộc nhiều vào nguyên mẫu thực tế nên sức khái quát nghệ thuật chưa cao.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đoàn Đức Hải là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mảng tiểu thuyết đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc giai đoạn 1960-1975 trong mối liên hệ chặt chẽ với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Bằng việc kết hợp phương pháp tiếp cận thi pháp học và xã hội học văn học, tác giả đã tái hiện diện mạo thể loại, phân tích hệ thống cảm hứng, thế giới nhân vật và các phương diện nghệ thuật đặc thù của thời kỳ này. Dưới góc nhìn khoa học sau thời kỳ Đổi mới, công trình đã xác lập sự đánh giá công bằng về cả thành tựu lịch sử lẫn hạn chế thẩm mỹ của các tác phẩm, đồng thời khôi phục giá trị của những sáng tác từng bị phê phán trong quá khứ.