chương 1: Nền văn học mới từ sau Cách 14 mạng tháng Tám 1945; chương 11: Truyện và Ký 1945-1975; chương 12: Tô Hoài; chương 13: Nguyễn Đình Thi. giúp chúng tôi một số gợi ý trong nhận diện và đánh giá văn học và văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ về một số tác giả như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyên Ngọc, Chu Văn, Nguyễn Kiên, Ngô Ngọc Bội. các luận án giúp thêm cho chúng tôi soi lại một chuyển đổi lớn trong không khí tiền đổi mới và đổi mới diễn ra trong suốt thập niên 1980- là những năm tiểu thuyết gặt hái được nhiều thành công trong ý thức đổi mới nhận thức xã hội và tư duy nghệ thuật.
Đồng thời, trong định hướng chung ấy, theo độ lùi thời gian, cũng cần có sự tỉnh táo để điều chỉnh những gì có phần thái quá - chẳng hạn tuyên bố “hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa” của Nguyễn Minh Châu - tác giả tiểu thuyết Cửa sông và Dấu chân người lính. Hoặc sự khẳng định “cả một mảng viết về nông thôn của tôi coi như bỏ đi” của Nguyễn Khải - tác giả của Xung đột, Tầm nhìn xa, Chủ tịch huyện…Với các tác phẩm như đã dẫn trên của hai tác giả, cả Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải, theo chúng tôi, như sẽ được trình bày trong luận án, đều là những người có đóng góp tích cực cho mảng đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội trong văn xuôi miền Bắc giai đoạn 1960-1975. Cuối cùng là các công trình tập thể và cá nhân như Tiếp cận và định giá văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (Nxb. Giáo dục, 2001) của Nguyễn Văn Long[110]; Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lý luận (Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội; 2004), Phan Cự Đệ chủ biên[41]; Từ điển tác gia văn xuôi Việt Nam - Tập 2 (2006) của Viện Văn học[203]; Lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam thế kỷ XX (2009) của Nguyễn Văn Tùng[195]; Hiện đại hóa và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ XX (2009)[102] và Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX (2013) [105] của Phong Lê. Ở các công trình trên- là công trình tập thể của 10 tác giả, do Giáo sư Phạn Cự Đệ chủ biên; hoặc công trình cá nhân như của PGS Nguyễn Văn Long, TS Nguyễn Văn Tùng, GS Phong Lê… dẫu phạm vi được bàn là rất rộng, bao trùm cả thế kỷ XX, hoặc từ sau 1945 cho đến đầu thế kỷ XXI; là chung cho tất cả các thể loại như thơ, văn xuôi, lý luận - nghiên cứu phê bình; là nghiêng về tổng kết lịch sử hoặc đề xuất các lý luận… tất cả đều là đối tượng tham khảo cần thiết và bổ ích cho 15 chúng tôi trong việc khảo sát, đối chiếu, so sánh. Riêng công trình Từ điển tác gia văn xuôi Việt Nam (tập 3), tóm tắt trên 300 tác phẩm văn xuôi tiêu biểu ra đời trong giai đoạn 1945-1975 giúp chúng tôi tra cứu để có một cái nhìn rộng toàn bộ các tiểu thuyết quan trọng giai đoạn 1960-1975 trong đối sánh với các giai đoạn trước 1960 và sau 1975. Một công trình lớn cũng rất có ích cho chúng tôi, đó là công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Lý luận - phê bình 1945-1975), quyển 5, tập X; do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009 (1030 trang), sưu tập và tuyển chọn các bài viết, công trình tiêu biểu của 16 tác giả gồm Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Đỗ Đức Hiểu, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Văn Hạnh, Phương Lựu, Vương Trí Nhàn… là những người viết chuyên về lý luận-phê bình có đóng góp trực tiếp cho đời sống văn học giai đoạn 1945-1975, trong đó có giai đoạn 1960-1975 là đối tượng luận án khảo sát.
Tất cả khối tư liệu đồ sộ gồm các công trình, bài viết của các tác giả được lược kể như trên đã giúp cho người viết luận án có một cái nhìn tổng quan về diện mạo, đặc điểm và thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1960-1975 nói chung và tiểu thuyết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội nói riêng. Điều chúng tôi mong muốn được bổ sung ở luận án này là một cái nhìn mới, sau khoảng lùi nhiều chục năm, dưới ánh sáng sự nghiệp đổi mới để soát xét lại những nhận thức và đánh giá một thời về một trong hai đề tài cơ bản của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa - đó là đề tài về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ những năm 1960 cho đến 1986 - năm diễn ra Đại hội Đảng lần thứ VI, đề ra nhiệm vụ Đổi mới sau những khó khăn và thất bại kéo dài nhiều chục năm, trước khi Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ. Hoàn cảnh lịch sử và tình hình văn học giai đoạn 1960-1975 1. Đời sống chính trị - xã hội Xã hội nước ta trong vòng 30 năm (1945-1975) đã trải qua những biến chuyển quan trọng đem lại những thay đổi lớn cho đất nước và con người.
Những sự kiện lớn ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội thời kỳ này là: cuộc cách mạng giành chính quyền và giữ chính quyền trước và sau thời điểm 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp bảo vệ nền độc lập dân tộc (1945-1954), cuộc cải cách ruộng đất xoá bỏ chế độ phong kiến (1953-1956) và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc song song diễn ra với cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam (1954-1965), cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên toàn quốc (1965-1975). 16 Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám có thể được chia th ành 2 thời kỳ: Thời kỳ 1945-1975: bối cảnh Cách mạng tháng Tám - 1945 và 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng với công cuộc xây dựng chế độ mới. Thời kỳ 1945-1975 đi qua mốc lị ch sử 1954 và 1960. Thời kỳ sau 1975: với đại thắng mùa xuân 1975, đất nước giành trọn vẹn độc lập và thống nhất, chuyển dần sang bối cảnh hòa bì nh, giải quyết các vấn đề hậu chiến và tiếp tục xây dựng đất nước.
Từ 1990, Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩ a tan vỡ, Việt Nam chuyển vào công cuộc Đổi mớ.i Thời kỳ sau 1975 đi qua mốc lị ch sử1986. + Chặng 1945-1960: 15 năm tí nh từ Cách mạng tháng Tám - 1945 đến 1960 là năm trên miền Bắc tiến hành Đại hội lần thứ III của Đảng Cộng sản Việt Nam , chính thức công bố Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ; miền Nam thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam , chính thức đưa cuộc đấu tranh của toàn dân tộc chống đế quốc Mỹ và tay sai lên quy mô cả nước. Đó cũng là 15 năm nền văn học mới sau Cách mạng tháng Tám, thừa hưởng được những kết quả của quá trì nh hiện đại hóa trước 1945 đã chuyển sang một nền văn học có ý thức và có đị nh hư ớng rõ rệt nhằm vào mục tiêu dân tộc - khoa học - đại chúng, dân tộc - hiện thực - nhân dân, để phục vụ một cách thiết thực và cụ thể cho các nhiệm vụ chính trị của đất nước qua từng giai đoạn cách mạng. Một nền văn họ c gắn sát và chị u sự lãnh đạo của Đảng trên mọi phương diện của tổ chức và đường lối , bao gồm đường lối chí nh trị và đường lối văn học - nghệ thuật.
Đây là thời kỳ văn học chị u sự quy đị nh triệt để , không thể khác đượ c của tình thế đất nước. Mốc 1954 không tạo ra sự đứt đoạn mà còn là bước chuyển rất cần thiết cho những phát triển mới vào thời kỳ sau 1960. Năm 1960 là năm mở đầu kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩ a xã hội , sau 6 năm khôi phục kinh tế và tiến hành công cuộc cải tạo nông thôn và cải tạo giai cấp tư sản ở thành thị. Cuộc sống ở miền Bắc, tuy đã có hòa bì nh sau năm 1954 nhưng phải từ 1960 mới thực sự chuyển sang một giai đoạn mới.
+ Chặng 1960-1975: từ 1960 đến 1975 là chặng đường 15 năm đất nước chuyển vào cuộc kháng chiến chống Mỹ trên phạm vi cả nước. Miền Bắc vừa dốc sức cho tiền tuyến , vừa xây dựng chủ nghĩ a xã hội trong bối cảnh thời chiến. Miền 17 Nam, do sự can thiệ p của Mỹ và đặt dưới sự thống trị của những chí nh quyền thân Mỹ và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới. Văn học tồn tại trong sự phân cách hai miền và trong sự phân biệt giữa hai diện mạo khác nhau.
Ở miền Bắc là sự nhất trí trong đị nh hướng xây dựng một nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩ a lấy chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân trong chiến đấu làm mục tiêu bao trùm cho mọi nỗ lực khám phá hiện thực và cho sự gắn nối giữa người viết và người đọc. Miền Nam là sự phân hóa thành nhiều xu hướng: xu hướng yêu nước, bảo vệ bản sắc dân tộc ; xu hướng chống Cộng ; và xu hướng thương mại với sự bắt chước mô hì nh hiện đại trong văn học phương Tây. Cuộc đấu tranh ý thức hệ trong tổng thể sự phát triển văn học dân tộc gắn với bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh giữa hai phe trên thế giới kéo dài cho đến cuối thập niên 1980 khi Liên Xô và phe Xã hội chủ nghĩa tan vỡ. Giai đoạn 1960-1975 là thời kỳ văn học luôn đồng hành với cuộc chiến đấu chống Mỹ của dân tộc.
Văn học phản ánh cuộc chiến đấu và xây dựng trên quy mô cả nước diễn ra trong 15 năm, nhưng là kết quả, là thành tựu ở đỉ nh cao của cả 30 năm - nền văn học xứng đáng “đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay” (Văn kiện đại hội IV - 1976). Tình hình văn học Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra một giai đoạn mới, một bước ngoặt trong sự phát triển của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Một giai đoạn mà yêu cầu của cách mạng và của đại chúng buộc đội ngũ sáng tác phải có những nhìn nhận lại về nhân sinh quan, thế giới quan để có thể hòa được vào dòng chảy chung của cuộc sống mới.