mở đầu của chiến dịch và cũng là giai đoạn cực kì khốc liệt của cuộc chiến. Sau chặng đường hành quân dài ngày, sức khỏe có phần suy kiệt, ăn uống thiếu thốn, Binh còi và đồng đội phải đối mặt ngay với đội quân nhà giàu được trang bị hùng hậu, lại được hỗ trở bởi phi pháo ném bom, tải thương. Suốt từ đầu đến cuối của Linh trận, chỉ có một trận đánh dién ra ở chiến trường trọng điểm Pleime - la Drang. Tất cả dồn nén qua những trang văn dé bật tung ra nơi không khí chiến đấu ở chiến trường.
Nơi mà quyết tâm chiến lược của kẻ thù là dùng tất cả mọi phương tiện chiến tranh có thể có được, để chiếm cho 13 băng được nhưng cuối cùng vẫn không khuất phục được ý chí chiến đấu ngoan cường của bộ đội và nhân dân địa phương. Dù vậy, có thể thấy, trận Pleime - la Drang không phải là mục đích chính mà tác giả hướng tới trong cuốn sách này. Dựa trên cái nền dữ dội, khốc liệt của trận chiến ay, Trung Trung Dinh đã giới thiệu cho người đọc chân dung thật nhất về người lính. Họ là những người bình dị với đủ mọi nguồn gốc, trạng thái tâm lý, tình cảm, tính cách.
Chọn kế những câu chuyện nhỏ của những người lính bình thường trong chiến tranh, lại có độ lùi sau gần 40 năm, Trung Trung Đỉnh không tô hồng, không lãng mạn hóa, cũng không cường điệu, đã tái hiện lại chân thực những ký ức dep dé và bi tráng về một thời tuổi trẻ nơi chiến trường. Như nhà phê bình Bùi Việt Thang chia sẻ: “Linh trận là một cuốn tiêu thuyết chân thực đến tận cùng về “những người chết và những người sống” trong và sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, một cuộc chiến tranh vào loại lâu đài và ác liệt nhất trong lịch sử nhân loại thế kỉ XX. Chúng ta đã mat gần hết một thế hệ những người trẻ tuổi, dep dé, thông minh và tròn đầy nhân cách. Đó cũng là một “nỗi buồn chiến tranh” khác trong con mắt và cách viết về chiến tranh của Trung Trung Đỉnh”.
Khuất Quang Thụy và Đối chiến 12. Hành trình sáng tác của Khuất Quang Thụy Đại tá, nhà văn Khuất Quang Thụy sinh ngày 12-01-1950 tại xã Phúc Hòa, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông nguyên là học viên khóa I của Trường Viết văn Nguyễn Du, lần lượt trải qua các chức vụ Biên tập viên, Trưởng ban văn xuôi rồi Phó Tổng biên tập của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Hiện nay, Khuất Quang Thụy đang là Tổng biên tập báo Văn nghệ.
Nhà văn Khuất Quang Thụy từ nhỏ đã được nuôi dưỡng trong nền văn hóa xứ Đoài. Năm 1967, sau khi tốt nghiệp phô thông, ông đã lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu trong đội hình Sư đoàn Sư đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) tại các mặt trận Quảng Trị, Tây Nguyên nổi tiếng ác liệt của một thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Một số tác phâm chính của nhà văn Khuất Quang Thụy: - — Trong cơn gió lốc (Tiêu thuyết, 1980); - _ Trước ngưỡng cửa bình minh (Tiểu thuyết, 1985); 14 - _ Không phải trò đùa (Tiêu thuyết, 1985); - Người ở bến Phù Vân (Tập truyện, 1985); - _ Thêm năng (Tập truyện, 1985); - _ Giữa ba ngôi chúa (Tiêu thuyết, 1990); - _ Góc tam toi cuối cùng (Tiểu thuyết, 1990); - — Người đẹp xứ Doai (Truyện vừa 1991); - — Nước mắt số (Tập truyện, 1986); - — Những bức tường lửa (Tiêu thuyết, 2006); - Doi chiến (Tiểu thuyết, 2010); - Tu đại mĩ nhán (Tập truyện, 2014); - Dinh cao hoang vắng (Tiểu thuyết, 2016). Qua những tác pham của Khuất Quang Thụy, người đọc có thê nhận thấy khi viết về chiến tranh ông luôn đề cao sự cần trọng và tỉ mỉ trong cách tiếp cận đề tài.
Những tác pham đề tài chiến tranh cách mang của Khuất Quang Thụy luôn bé thé cả về quy mô chiến trường và dung lượng. Những cuốn sách dày trên dưới 500 trang không phải hiếm, như Trong cơn gió lốc, Những bức tường lửa, Đối chiến. Chiến trường trong tác phẩm của ông luôn có biên độ không gian rộng lớn với mức độ tham gia chiến đấu quy mô cấp sư doan. Những trang viết của Khuất Quang Thụy không nặng về chiến công, được thua mà nhấn mạnh hơn cả về những điều cao cả, vinh nhục mà người lính trải qua.
Nhà văn đã từng tâm sự: “Những nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước như chúng tôi di nhiên còn lâu mới ra khỏi được “từ trường” của cuộc chiến: Gian khổ và hy sinh, vinh và nhục, tình bạn — cái cao thượng và sự thấp hèn, sự sông và cái chết. tất cả còn ám ảnh chúng tôi và sẽ được trang trải trên các trang viết. Tuy vậy, chúng tôi cũng là những người đặc biệt quan tâm đến cuộc sống ở phía sau lưng mình những năm chiến tranh và số phận của một nhân dân, một đất nước đã bằng con đường nao dé thoát ra khỏi đói nghèo và những di chứng của mấy mươi năm binh lửa. Những cái đó không chỉ là đề tài mà còn là sự khắc khoải trong mỗi trái tim người viết — chiến sĩ chúng tôi”.
Nhân vật trong tác phâm của ông được khai thác khách quan hơn, đậm nét hơn, giàu tính hiện thực hơn. Khuất Quang Thụy cho thấy những đổi mới quan 15 niệm về con người trong xu hướng “giải sử thi” của tiểu thuyết hiện đại. Khai thác những mặt khuất lấp của chiến tranh, vẫn sử dụng cấu trúc lịch sử - sự kiện nhưng đan xen là khuynh hướng đời tư, thế sự đậm nét. Đó là sự cân bang giữa tốt và xấu, phải và trái, tình yêu và cám dé, lý tưởng cao đẹp và góc khuất bản năng, vinh quang và tủi nhục.
“Nhà văn khám phá và nhìn nhận những thân phận người lính của phía biên kia đối kháng một cách khách quan. Khuất Quang Thụy có cách lý giải diễn biến tâm lý nhân vật thấm đẫm tình người. Chính vì thé, ban đọc càng hình dung và nhận biết bản chất chiến sĩ của quân đội ta một cách sâu sắc và cao cả hơn. Khuất Quang Thụy đã động cham tới via tang văn hóa của những nhân vật.
Đó là nền tảng tư tưởng của cuộc “Đối chiến”. Cái thắng cái thua, cái được cái mat ở đây không chỉ còn là những viên đạn, mà ở trái tim của người cầm súng” [56]. Với những đóng góp của mình, Khuất Quang Thụy đã được nhận nhiều giải thưởng về văn học nghệ thuật: - — Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007 cho cụm ba tiểu thuyết: 7rong cơn gió loc, Không phải trò đùa và Góc tăm toi cuối cùng: - _ Giải thưởng Văn học nghệ thuật của Bộ Quốc phòng cho các tiêu thuyết Không phải tro dua (1984), Những bức tưởng lửa (2004). - _ Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006 với tiêu thuyết Những bức tường lửa; - _ Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1984.
Tiểu thuyết Đối chiến Đối chiến lây bỗi cảnh chiến dịch Đường 9 — Nam Lào của Quân đội nhân dân Việt Nam đánh tan âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - Ngụy. Khuất Quang Thụy đã tập trung khai thác cuộc “đối chiến” giữa cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 3 (Thực tế là Trung đoàn 64, Sư đoàn 320) với các tướng lĩnh, sĩ quan và binh lính quân Ngụy. Điều này đã được tác giả xác tín qua đôi lời giới thiệu: “Cuốn tiêu thuyết này được viết nên từ những trải nghiệm của riêng tôi và lay cảm hứng từ một sự kiện lịch sử có thật — Chiến dich Đường 9 — Nam Lào mùa xuân năm 1971 (Phía quân đội của chế độ cũ ở Sài Gòn gọi là Cuộc hành quân Lam Sơn 719). Tuy nhiên cuốn sách này được viết theo ngôn ngữ và bút pháp của thể loại tiểu thuyết, về bản chất nó là một tác phẩm văn học hư cấu” [59, tr.
16 Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào diễn ra trên một địa bàn rộng, với chiều dài 140 km từ Cửa Việt, Đông Hà (Việt Nam) tới Mường Phìn, Pha Lan (Lào); chiều rộng khoảng 60km từ Mường Trương tới Mường Noọng. Trên địa bàn gồm khu vực đồng băng ven biên, đôi núi trung du xen kẽ làng mạc và núi cao rừng ram từ Cửa Việt tới Lao Bảo dài 80 km có trục đường 9 phía đông chạy qua, dich đã tập kết hàng chục trung đoàn, hàng chục kho tàng, bến bãi, hàng chục trận địa pháo, sân bay dã chiến các loại ở Đông Hà, Khe Sanh, Cam Lộ, Lao Bảo, san sang cho cuộc tiến công nhằm vào các mục tiêu chiến lược chủ yếu của ta ở Đường 9 - Nam Lào. Đề chuẩn bị đối phó với âm mưu thủ đoạn và hành động của địch, từ những ngày đầu tháng 02-1971, chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân và dân ta trên các hướng của chiến dịch đã tích cực, chủ động tiến công địch ngay từ khi chúng đặt chân ra chiến trường Đường 9 - Quảng Trị. “Nét nỗi bật trong nghệ thuật lập thế trận là ta đã kết hợp chặt chẽ giữa thế chốt chặn với triển khai thế trận đánh địch rộng khắp, kìm hãm toàn bộ quân địch tại Bản Đông, tạo ra thé và thời cơ thuận lợi dé tập trung lực lượng bẻ gãy từng cánh quân địch.
Thực tế diễn ra đã khăng định: Bằng thế trận chốt chặn vững chắc, kết hợp với thế trận đánh địch rộng khắp, chiến dịch đã buộc địch đang từ thế chủ động tiến công rơi vào thế bị động đối phó ở cả 3 cánh quân, tạo điều kiện thuận lợi để chiến dịch tiêu diệt từng bộ phận quân địch. Ta đã chuyên hóa thé trận rất linh hoạt và tạo ưu thế về lực lượng đánh những trận quyết định tiêu diệt từng cánh quân địch, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch, kết thúc chiến dịch. Đề đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719, chiến dịch đã không dàn đều lực lượng đối phó với cả 3 cánh quân, mà tập trung lực lượng tiễn hành cô lập trên từng hướng, bẻ gãy từng cánh quân, khiến chúng không thé hỗ trợ cho nhau, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch” [2]. Đối chiến của Khuất Quang Thụy tập trung miêu tả cánh quân của Trung đoàn 64 liên tiếp đánh thắng hai trận ở khu vực điểm cao 456 và đồi Không tên, tiêu diệt 3 đại đội của Tiêu đoàn 3 và Tiểu đoàn 6 (Lữ đoàn dù 3) chốt giữ căn cứ 31 (điểm cao 543) bắc Bản Đông 7 km.
Day là dit kiện lich sử có that dé nhà văn sử dụng làm phông nền của thời gian sự kiện trong tác phâm.