mở đầu, phát triển, kịch tính, kết thúc. Người đọc có thể dựa vào những sự kiện ấy mà kể lại cho người nghe về nội dung câu chuyện. Tuy nhiên trong một số tiểu thuyết có sử dụng kết hợp thủ pháp đồng hiện: từ hiện tại hồi nhớ về quá khứ đã qua. Bằng con đường ấy, người đọc có điều kiện hiểu rõ hơn về cuộc đời nhân vật trong tác phẩm.
Nếu như quan niệm con người trong văn học trước 1975 là quan niệm con người cá nhân hòa nhập trong tập thể, con người quần chúng thì sau 1975, đặc biệt từ sau đổi mới là quan niệm con người cá nhân được thể hiện trong mối quan hệ với cộng đồng trên cơ sở phát huy cá tính, tôn trọng đời tư nhân vật. Đồng thời với việc tái hiện bức tranh đời sống nông thôn đầy phức tạp, các nhà văn đặc biệt quan tâm đến cuộc sống, thân phận con người. Trong mỗi tiểu thuyết, người đọc đều tìm thấy một hoặc một số nhân vật có thân phận, có tính cách rất đặc biệt. Tính cách và thân phận ấy có mối quan hệ tương tác từ hoàn cảnh xã hội.
Sự lầm lì, cam chịu của Sài trong Thời xa vắng của Lê Lựu chẳng phải có căn nguyên từ những qui định, những áp đặt từ gia đình, cơ quan hay sao? Song ẩn sâu bên trong bề ngoài ấy, người ta nhận thấy có một cõi lòng muốn vượt thoát đi tìm hạnh phúc thực sự, song chưa đủ quyết tâm và mạnh mẽ để vượt qua và vứt bỏ tất cả những cái được coi là danh dự, là sự nghiệp. Cuộc đời Hạnh (Bến không chồng- Dương Hướng) phải chịu bao xô đẩy, áp lực từ những “lề thói, hủ tục” để rồi hạnh phúc tan vỡ trong đau khổ. Có thể thấy rất rõ, số đông nhân vật trong các tiểu thuyết về đề tài nông thôn mang đầy đủ cái mộc mạc, cùng sự toan tính thực dụng rất nông dân. Nhưng ở họ ta cũng bắt gặp vẻ đẹp những tâm hồn thuần phác, trong lành, vẫn còn nguyên vẹn nền tảng đạo đức từ ngàn xưa.
Một thế giới phong phú con người sinh sống và làm việc ở nông thôn được tái hiện sinh động trên từng trang viết. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngôn ngữ là đặc điểm khác biệt quan trọng giữa con người ở làng quê và thành thị. Trình độ văn hóa, suy nghĩ, lối sinh hoạt tạo cho người dân sống nơi thôn dã có lời ăn tiếng nói rất đặc biệt. Để xây dựng thành công thế giới phong phú và sinh động đó, các nhà văn phải dung nạp vào trang văn của mình tất cả ngôn ngữ của người dân nông thôn: từ địa phương, khẩu ngữ,.
Bằng con đường đó, ngôn ngữ nhân vật được cá thể hóa rõ rệt. Trong bức tranh toàn cảnh tiểu thuyết thời kì đổi mới, nông thôn là đề tài trọng tâm, đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Khi khai thác về một đối tượng không mới trong truyền thống văn học, các nhà văn vẫn khẳng định được tài năng sáng tạo của mình bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật thông qua việc lựa chọn đề tài, xây dựng cốt truyện, nhân vật và cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật. Nông thôn Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa cũ vừa mới, vừa bình yên vừa phức tạp hiện lên sinh động, hấp dẫn trong từng trang viết.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2: HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT 2. Bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn Hiện thực cuộc sống là nơi bắt đầu cũng là nơi đi đến của nhưng sáng tạo văn chương. Viết về nông thôn Việt Nam dù ở thời kì nào cũng nhận thấy rất rõ hiện thực làng quê qua cái nhìn rất riêng của mỗi nhà văn. Cái làng quê đã trở thành máu thịt cội nguồn trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người Việt Nam, qua mỗi giai đoạn văn học lại hiện lên phong phú lắm màu vẻ.
Điểm tương đồng của những tiểu thuyết đoạt giải viết về nông thôn thời kì đổi mới là khắc họa một hiện thực nông thôn nghèo khổ lam lũ, một nông thôn nặng nề hủ tục “đất lề quê thói”, một nông thôn đang trong “khoảnh khắc cuối cùng của đêm dài trước bình minh”. Những điểm tương đồng ấy lại được khai thác trên những mảng hiện thực khác nhau, với những chi tiết thú vị và độc đáo đã tạo nên sức hấp dẫn riêng cho mỗi tác phẩm. Những vùng quê nghèo khó. Đi lên từ đồng đất, những vùng quê nông thôn Việt Nam dường như chỉ dựa vào sức lao động của con người làm tiềm năng lớn nhất tạo nên sự thay đổi.
Cái nghèo vì thế trở thành cái “duyên ngầm” của thôn quê. Những tác phẩm viết về làng quê không làm sao thoát khỏi nỗi ám ảnh về sự nghèo khó, nhọc nhằn. Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu, người đọc thấy lại ở đó một nông thôn chưa thật xa. Sự nghèo khó hằn vào nếp nghĩ khiến hình thành những cung cách làm ăn không giống ở đâu: “Không hiểu từ đời nào làng chỉ quen đi làm thuê.
Miếng cơm thiên hạ bao giờ cũng ngon. Những người khỏe mạnh có nghề trong tay, dường như mục đích cao cả và sự sung sướng hồi hộp của họ cũng chỉ là kiếm được miếng ăn giữa tháng ba ngày tám, sau đấy vợ chồng con cái lại dắt díu nhau về cày bừa vội vã để lại bồng bế ra đi. Đến mùa thu hoạch lại về. Hết mùa lại đi.
Khi về lại nhớ cơm thiên hạ. Khi đi lại cồn cào thương nhớ từ gốc cau, bụi chuối. Họ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không yêu thiết tha đồng ruộng nhưng không đủ sức dứt bỏ những gì quen thuộc từ thuở cha sinh mẹ đẻ ở cái nơi mà ai cũng gọi là quê hương” [18, tr. Lối làm ăn thụ động ỉ nại ấy vẫn duy trì không hề bị xóa bỏ ngay cả khi làng xóm đã được giải phóng, nhân dân đã giành được chính quyền.
Đó là một kiểu “du canh” trong lao động sản xuất. Cái nghèo truyền kiếp cứ bám riết lấy làng Hạ Vị này. Niềm mong mỏi của người dân Hạ Vị thật là giản dị, chỉ một bữa no cho mình và người thân để đắp đổi qua ngày. Làng Hạ Vị luẩn quẩn trong cái nghèo giam hãm những mảnh đời trong vòng tròn không lối ra.
Sự ít học, cái nghèo khó và thói quen đã ràng buộc con người trong những suy nghĩ cũ. Bởi thế, khi có chủ trương thay đổi cung cách làm ăn, buộc người dân không được đi làm thuê mà phải canh tác trên chính mảnh đất quê hương mình thì họ lại “ấm ức”, họ sợ “gia đình chết đói thì ai chịu trách nhiệm”. Cuộc sống đã thay đổi, đã độc lập tự do nhưng người dân làng Hạ Vị dường như chưa thấy đó là cơ hội cho sự đổi đời. Căn nguyên của tất cả những lo sợ ấy là để duy trì miếng cơm manh áo cho mỗi người trong gia đình, bởi thế thay đổi họ cũng thật đơn giản: “Thành ra đầu cuộc họp là nỗi khổ, ấm ức, cuối cuộc họp đã là sự sung sướng thỏa mãn.
Nếu được một lẻ gạo người nông dân có thể cho một thúng lời khen, huống hồ ngày mai mỗi nhân khẩu ít nhất cũng được mười cân thóc thì có thức suốt đêm nay mà khen ông chủ tịch có thấm gì” [18, tr. Người nông dân với những tính toán rất chân thật như thế thật đáng thương, đáng trọng. Trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, sự nghèo đói được miêu tả đến mức làm linh hiển âm khí của xóm Giếng Chùa. Cái đói giáp hạt nhảy xổ cả vào xóm vốn “đứng đầu về cái sang cái giàu toàn xã” khiến “nhiều nhà phải nấu cháo trộn thêm rau tập tàng.
Nhiều nhà luộc chuối xanh chấm muối”. Người ta “sáng chế” ra bánh mạt ngô, cháo cám, bánh cám đồ cách thủy. Họ duy trì cuộc sống bằng tất cả những thức ăn có thể, cầm cự cái đói qua ngày và chưa biết ngày sau sẽ ra sao. Nếu giọng kể chuyện của nhà văn không có đôi chỗ hóm hỉnh thì cảnh đói xóm Giếng Chùa sẽ thật thê thảm, bi đát: “Những người hao gầy, nhớn nhác hớt hải cứ tưởng vội vã đi đâu, nhưng kì thực chẳng có việc gì hết, cứ ra vào quẩn quanh với cái bụng sôi èo èo!” [34, tr.
Cái đói đến cùng kiệt, báo 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động sự tiếp diễn của nạn đói năm Ất Dậu ngày nào đang bao trùm lên không gian trong tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khắc Trường khiến không chỉ con người mà dường như cả quanh cảnh làng quê với tre vàng, ngõ vắng cũng trở nên tiêu điều xơ xác. Người ta đâu thể nghĩ tới bất cứ điều gì khác khi trong bụng không ngừng thúc giục miếng ăn. Tác giả của Mảnh đất lắm người nhiều ma không lí giải cho người đọc nguyên nhân của cái đói bao trùm xóm làng này, và không thấy những trang miêu tả đồng ruộng được cày xới vun trồng canh tác. Chỉ biết rằng xóm Giếng Chùa của Nguyễn Khắc Trường, cũng như làng Hạ Vị của Lê Lựu, cũng như bao làng quê khác trên mảnh đất Việt Nam nhiều nhọc nhằn này còn thật nhiều gian khó, vất vả chưa dám nghĩ đến chuyện “ăn no mặc đẹp”.
Và những không gian ấy, những cảnh ngộ ấy lại nhắc nhớ về cái nghèo đói đến rã rời, đến cùng kiệt sức lực con người trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Lão Hạc (Nam Cao), Vợ nhặt (Kim Lân). Các nhà văn thời kì đổi mới đã rất thực tế khi nhìn thấy và chỉ ra trong mỗi trang, mỗi cuốn tiểu thuyết của mình cái nghèo đói không chỉ làm cho người ta khổ, mà còn tác động rất lớn đến số phận, nhân cách các nhân vật. Chính sự nghèo đói đã sinh ra một người dị thường như lão Quyềnh. Nhà văn Nguyễn Khắc Trường đã xây dựng trong tiểu thuyết của mình một con người sù sì mà ngây thộn, làm công việc hết sức nặng nhọc: thửa đá ong: “Lão lại thửa mai thình thịch như một cái máy khoan.
Rồi lão gánh gấp rưỡi vợ chồng Ích, như một con lừa thồ” [34, tr. Quyềnh có thể làm bất cứ việc gì người ta thuê lão mà không cần tính đến cao thấp về công cán, chỉ cần được bữa ăn. Cái nghèo đã khiến con người sống tạm bợ dật dờ như chính kiếp người của mình. Lão Quyềnh chết thật bất ngờ, và đau lòng thay cái chết ấy lại được cắt nghĩa thật đơn giản: “vỡ dạ dày vì ăn quá no rồi làm việc nặng ngay”.