Tiêu Cực và Chống Tiêu Cực trong Bộ Máy Quan Lại Triều Nguyễn (1802-1884)

Tìm hiểu về tiêu cực và chống tiêu cực trong bộ máy quan lại triều Nguyễn (1802-1884). Phân tích các biện pháp, hệ quả và bài học lịch sử.

Chuyên ngành

Sư phạm Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2021

131
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Mục đích nghiên cứu

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của đề tài

7. Cấu trúc của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRIỀU NGUYỄN VÀ TIÊU CỰC TRONG BỘ MÁY QUAN LẠI TRƯỚC THỜI NGUYỄN

1.1. Tổng quan về triều Nguyễn

1.1.1. Tình hình chính trị

1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội

1.1.3. Tình hình văn hóa - tư tưởng

1.2. Tiêu cực trong bộ máy quan lại trước triều Nguyễn

1.2.1. Thời Lý - Trần - Hồ - Lê sơ - Mạc

1.2.2. Thời Lê trung hưng

2. CHƯƠNG 2: TIÊU CỰC TRONG BỘ MÁY QUAN LẠI DƯỚI TRIỀU NGUYỄN

2.1. Các hiện tượng tiêu cực trong bộ máy quan lại dưới triều Nguyễn

2.1.1. Về chính trị

2.1.2. Trong quản lý quân đội

2.1.3. Trong điều tra, xét xử hình án

2.1.4. Trong bổ dụng quan lại

2.1.5. Trong quản lý, thu, chi tài sản công

2.1.6. Trong quản lý khai thác vật liệu, xây dựng công trình của nhà nước

2.1.7. Trong quản lý thuế khóa

2.1.8. Bóc lột, chiếm đoạt tài sản nhân dân

2.1.9. Lạm quyền, ức hiếp, nhũng nhiễu nhân dân

2.1.10. Giáo dục, thi cử

2.1.10.1. Chấm bài không tinh
2.1.10.2. Sửa bài thi của sĩ tử

2.2. Nhận xét chung

2.3. Các giải pháp chống tiêu cực trong bộ máy quan lại của chính quyền nhà Nguyễn

2.3.1. Trừng trị những trường hợp vi phạm

2.3.1.1. Lĩnh vực chính trị
2.3.1.2. Lĩnh vực kinh tế
2.3.1.3. Lĩnh vực xã hội
2.3.1.4. Lĩnh vực giáo dục

2.3.2. Chế độ kinh lược đại sứ

2.3.3. Chế độ khảo khóa

2.3.4. Chế độ hồi tỵ

2.3.5. Các hoạt động của Tam pháp ty triều Nguyễn

2.3.6. Các hoạt động thanh tra, giám sát

2.4. Một số nhận xét

2.5. Bài học kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá Tiêu Cực Quan Lại Triều Nguyễn Bối Cảnh Lịch Sử Tầm Quan Trọng

Triều Nguyễn, vương triều quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam (1802-1945), đối mặt nhiều thách thức to lớn trong việc kiến tạo và duy trì bộ máy nhà nước. Ngay từ khi thành lập, nhà Nguyễn đã nỗ lực xây dựng một hệ thống công quyền Triều Nguyễn quy củ, học hỏi kinh nghiệm từ các triều đại trước và từ Trung Quốc. Vua Gia Long, sau khi thống nhất đất nước, đã bắt đầu tổ chức lại chính quyền, củng cố quân đội và ban hành nhiều chính sách nhằm ổn định xã hội [Tr.12]. Các vua Nguyễn tiếp tục độc tôn Nho giáo, coi đây là công cụ tư tưởng căn bản để cai trị và giáo hóa dân chúng. Quan chế Triều Nguyễn được thiết lập chặt chẽ, với sáu bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) phụ trách các công việc chung của nhà nước và các cơ quan giám sát như Đô sát viện [Tr.13]. Mọi quyền hành tập trung cao độ trong tay nhà vua, thể hiện một thiết chế quân chủ chuyên chế.

Tuy nhiên, song hành với những nỗ lực xây dựng, vấn đề tiêu cực quan lại Triều Nguyễn đã nổi lên, trở thành một căn bệnh trầm kha, bào mòn sức mạnh của vương triều. Ngay từ đầu, bộ máy chính trị Triều Nguyễn đã bộc lộ tính chất quan liêu, độc đoán [Tr.5]. Tư tưởng bảo thủ, tự mãn của giai cấp thống trị, cùng với học thuyết Khổng Mạnh lỗi thời, đã tạo ra một tầng lớp quan lại kiêu căng, hống hách, đạo đức suy đồi. Tình trạng này đã sản sinh hàng loạt hành vi tiêu cực như tham nhũng Triều Nguyễn, nhận hối lộ quan lại nhà Nguyễn, lạm dụng quyền lực phong kiến, bóc lột và ức hiếp nhân dân [Tr.5]. Các hiện tượng này khiến xã hội rối ren, chứa đựng nhiều mâu thuẫn sâu sắc.

Nghiên cứu về tiêu cực quan lại Triều Nguyễn có ý nghĩa lớn lao. Nó giúp nhìn nhận khách quan về hiện tượng này trong lịch sử, đánh giá các chính sách và biện pháp mà triều Nguyễn đã thực hiện để chống lại nó. Đây là cơ sở quan trọng để rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu. Những bài học này có thể làm nền tảng cho công tác bồi dưỡng đạo đức, thanh tra cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay, giúp định hướng công tác này một cách đúng đắn và hiệu quả. Vấn đề đạo đức công vụ thời phong kiến hay bất kỳ thời đại nào đều có tầm quan trọng sống còn đối với sự thành bại của nền hành chính. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng”, và “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại là do cán bộ” [Tr.6]. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễnhậu quả tiêu cực quan lại lịch sử để phòng tránh.

1.1. Tổng quan về Triều Nguyễn Nền móng và hệ thống quan chế

Triều Nguyễn, tồn tại từ năm 1802 đến 1945, là triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam. Sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long bắt đầu thiết lập một hệ thống công quyền Triều Nguyễn tập trung cao độ [Tr.12]. Đây là sự kế thừa và nâng cấp từ các thiết chế quân chủ trước, đặc biệt là thời Lê. Mục tiêu là ổn định chính trị, phát triển kinh tế và đối phó với các thách thức bên trong lẫn bên ngoài. Nhà nước được tổ chức theo mô hình quân chủ chuyên chế tuyệt đối, mọi quyền hành đều tập trung vào tay nhà vua, được coi là "con trời" [Tr.5]. Vua Nguyễn đặt ra lệ "tứ bất" để củng cố quyền lực, không đặt hoàng hậu, không đặt tể tướng, không lấy trạng nguyên, không phong vương cho người ngoài họ [Tr.12]. Bộ máy chính quyền trung ương gồm 6 Bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) và các cơ quan chuyên trách như Đô sát viện để thanh tra quan lại, Hàn lâm viện, Tôn nhân phủ, Quốc tử giám [Tr.13]. Quan chế Triều Nguyễn được quy định chặt chẽ, từ phẩm hàm cao nhất đến thấp nhất, cùng các thể thức tuyển dụng, phong tước và chế độ thưởng phạt [Tr.7]. Đặc biệt, dưới thời vua Minh Mạng, cải cách hành chính Triều Nguyễn đã chia cả nước thành 30 tỉnh và một Phủ Thừa Thiên, tạo nền tảng quản lý hiệu quả hơn [Tr.13]. Tuy nhiên, bản chất chuyên chế này cũng là mầm mống cho sự nảy sinh các nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễn.

1.2. Tại sao nghiên cứu tiêu cực quan lại lịch sử Triều Nguyễn là cần thiết

Việc nghiên cứu tiêu cực quan lại lịch sử Triều Nguyễn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn. Nó giúp nhìn nhận một cách đúng đắn, khách quan về các hiện tượng tham nhũng Triều Nguyễnhối lộ quan lại nhà Nguyễn đã diễn ra. Các nhà nghiên cứu có thể đánh giá chính xác các chính sách và biện pháp mà triều Nguyễn đã thực hiện để chống lại tiêu cực trong đội ngũ quan lại. Đây là cơ sở vững chắc để rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá [Tr.5]. Những bài học này không chỉ giới hạn trong phạm vi lịch sử mà còn đóng góp vào công tác bồi dưỡng đạo đức, thanh tra đội ngũ cán bộ, công chức của Việt Nam trong tình hình hiện nay. Lịch sử tham nhũng Việt Nam cho thấy, tiêu cực quan lại Triều Nguyễn đã tác động sâu sắc đến sự ổn định xã hội, phát triển kinh tế và thậm chí là sự tồn vong của vương triều [Tr.5]. Vấn đề đạo đức công vụ thời phong kiến luôn là yếu tố then chốt quyết định sự thành bại của một nền hành chính. Nắm rõ các nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễnhậu quả tiêu cực quan lại lịch sử là cách để phòng tránh lặp lại sai lầm.

II. Thực Trạng Tiêu Cực Quan Lại Triều Nguyễn Những Hình Thức Nổi Cộm

Tiêu cực quan lại Triều Nguyễn không phải là hiện tượng cá biệt mà lan rộng, biểu hiện qua nhiều hình thức tinh vi, gây hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội. Bộ máy quan lại, đáng lẽ phải là nền tảng của sự ổn định, lại trở thành nguồn cơn của nhiều vấn đề. Các hành vi tham nhũng Triều Nguyễnhối lộ quan lại nhà Nguyễn diễn ra dưới nhiều vỏ bọc, từ việc nhận tiền để bao che tội phạm đến việc lạm dụng quyền lực để tư lợi [Tr.36-40]. Tình trạng lạm dụng quyền lực phong kiến đã trở thành vấn nạn, khi quan lại sử dụng vị trí của mình để sách nhiễu dân chúng, bóc lột tài sản và thậm chí can thiệp vào các hoạt động tư pháp.

Trong lĩnh vực quân đội, các quan võ thường xuyên thực hiện hành vi nhũng lạm tiền của binh lính, nhận đút lót để miễn nghĩa vụ quân sự, hay ăn bớt thuốc súng, vũ khí trong kho. Tài liệu lịch sử ghi nhận các vụ việc như Vệ úy Đinh Công Xuyên nhũng lạm tiền của quân [Tr.35] hay Phó quản thập cơ Nguyễn Văn Khánh lấy lạm 300 quan tiền của lính [Tr.35]. Những hành vi này không chỉ làm suy yếu quân đội mà còn thể hiện sự suy đồi đạo đức quan trường trong một bộ phận không nhỏ quan lại. Vấn đề cửa quyền thời Nguyễn cũng nổi cộm trong các vụ án hình sự. Quan lại tư pháp nhận hối lộ để giảm nhẹ tội cho phạm nhân, bao che cho hành vi trái pháp luật, thậm chí bẻ cong công lý [Tr.37]. Ví dụ điển hình là Thư ký thành Diên Khánh Hồ Văn Phong nhận 100 quan tiền để chữa tội cho người phạm tội giết người [Tr.37]. Điều này đã làm mất đi niềm tin của nhân dân vào sự công bằng của triều đình.

Bên cạnh đó, việc quản lý tài sản công và thuế khóa cũng là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng Triều Nguyễn. Các quan được giao nhiệm vụ quản lý kho tàng, vật liệu xây dựng hoặc thu thuế đã lợi dụng chức vụ để biển thủ, ăn bớt, khai khống hoặc thu lạm để làm giàu cho bản thân [Tr.43]. Thủ hợp Nguyễn Khoa Nguyên thông đồng với thợ bạc, lấy trộm 260 lạng bạc trong kho [Tr.43]. Hay trường hợp quan coi mỏ chì ở Thái Nguyên làm thất thoát hơn 40 vạn cân chì [Tr.45]. Những hành vi này không chỉ gây thất thoát ngân sách nhà nước mà còn làm suy yếu nền kinh tế, tạo thêm gánh nặng cho dân chúng. Sự xuất hiện của hàng loạt vụ án tham nhũng thời Nguyễn đã phản ánh một thực trạng đáng báo động về đạo đức và hiệu quả quản lý của bộ máy. Những nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễn từ gốc rễ cấu trúc và tư tưởng đã tạo điều kiện cho các hiện tượng này phát triển.

2.1. Biểu hiện của tham nhũng Triều Nguyễn Hối lộ và lạm quyền

Các biểu hiện của tiêu cực quan lại Triều Nguyễn rất đa dạng và phổ biến. Nổi bật nhất là tham nhũng Triều Nguyễn dưới hình thức hối lộ quan lại nhà Nguyễn. Quan lại ở mọi cấp, từ trung ương đến địa phương, nhận tiền bạc để làm sai lệch công vụ. Trong quản lý quân đội, các quan võ nhận hối lộ để miễn nghĩa vụ, hoặc lấy lạm tiền lương, tiền công của binh sĩ [Tr.35-36]. Lĩnh vực tư pháp cũng tràn lan các vụ án hối lộ, nơi quan lại nhận tiền để giảm nhẹ tội, che đậy tội ác, thậm chí bẻ cong công lý [Tr.37-39]. Án sát tỉnh Phú Yên Nguyễn Văn Lý từng nhận đút lót để thả Hoàng Văn Lộc, một kẻ buôn lậu thuốc phiện [Tr.38]. Bên cạnh đó, lạm dụng quyền lực phong kiến là hình thức tiêu cực phổ biến. Quan lại lợi dụng vị trí để sách nhiễu, ức hiếp dân chúng, chiếm đoạt tài sản [Tr.29]. Vấn đề cửa quyền thời Nguyễn không chỉ là hành vi cá nhân mà còn là hệ quả của một hệ thống công quyền Triều Nguyễn mang tính chuyên chế, nơi quyền lực ít bị kiểm soát. Tình trạng này dẫn đến suy đồi đạo đức quan trường, khi phẩm chất liêm chính không còn được coi trọng.

2.2. Lạm dụng tài sản công quản lý thuế khóa Những lỗ hổng chí mạng

Lĩnh vực quản lý tài sản công và thuế khóa là nơi diễn ra nhiều vụ án tham nhũng thời Nguyễn với quy mô và mức độ nghiêm trọng khác nhau. Các quan lại được giao nhiệm vụ quản lý kho tàng, vật liệu xây dựng, hoặc thu thuế thường lợi dụng chức vụ để biển thủ, ăn bớt, hoặc khai khống [Tr.43-49]. Ví dụ, Thủ hợp Nguyễn Khoa Nguyên đã thông đồng với thợ bạc để lấy trộm 260 lạng bạc trong kho của triều đình [Tr.43]. Hay trường hợp quan lại trong Ty Vũ khố thông đồng ăn cắp đồng đỏ trong kho [Tr.44]. Những hành vi này gây thất thoát lớn cho ngân sách nhà nước và làm suy yếu tiềm lực kinh tế. Trong quản lý thuế khóa, các quan lại địa phương, đặc biệt là ở các khâu thu và nộp, thường xuyên thu lạm của dân, hoặc cố ý báo thiếu để biển thủ. Trưởng châu Đèo Chính Kiểu và Phó châu Đèo Chính Tuyên từng bị cáo buộc thu thiếu thuế và bán dân cho châu khác [Tr.49]. Hệ thống thu thuế thời Nguyễn, vốn mang tính cống nạp và phải qua nhiều khâu trung gian, tạo ra nhiều kẽ hở cho các hành vi tiêu cực quan lại Triều Nguyễn này. Các lỗ hổng trong quản lý đã tạo điều kiện cho sự suy đồi đạo đức quan trường, biến tài sản công thành tài sản cá nhân.

III. Các Giải Pháp Chống Tiêu Cực Triều Nguyễn Chính Sách Ban Hành

Đối mặt với tình trạng tiêu cực quan lại Triều Nguyễn lan rộng, triều đình nhà Nguyễn đã không ngừng nỗ lực ban hành nhiều chính sách của vua Nguyễn về tiêu cực nhằm kiểm soát và trấn áp. Ngay từ đầu triều đại, vua Gia Long đã hiểu rõ tầm quan trọng của việc xây dựng một bộ máy trong sạch. Vua Minh Mạng, với những cải cách hành chính Triều Nguyễn mang tính đột phá, càng đẩy mạnh các biện pháp ngăn chặn tiêu cực lịch sử. Mục tiêu là giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố quyền lực của hoàng đế và niềm tin của dân chúng vào hệ thống công quyền Triều Nguyễn.

Một trong những nền tảng quan trọng nhất là việc ban hành pháp luật chống tham nhũng nhà Nguyễn. Năm 1815, nhà Nguyễn ban hành bộ luật "Hoàng triều luật lệ", sao chép từ bộ luật nhà Thanh [Tr.14]. Bộ luật này gồm 398 điều, chia thành 7 chương và 30 điều "tạp tụng", quy định rõ ràng các tội danh và hình phạt đối với hành vi tham nhũng Triều Nguyễn, hối lộ quan lại nhà Nguyễn, và các tội lạm dụng quyền lực phong kiến. Các tội phạm liên quan đến chống đối triều đình hay làm sai lệch công vụ đều bị trừng trị tàn bạo [Tr.14]. Điều này cho thấy sự nghiêm khắc của triều đình trong việc giữ gìn trật tự và trấn áp các hành vi sai phạm của quan lại. Các điều khoản cụ thể về trách nhiệm của quan lại trong việc quản lý, xét xử và thực thi công vụ được xác định rõ ràng, nhằm hạn chế tối đa các kẽ hở cho tiêu cực phát triển.

Bên cạnh pháp luật, triều Nguyễn còn thiết lập nhiều giải pháp cải tổ quan lại và cơ chế giám sát hành chính. Các cơ quan như Đô sát viện (tiền thân của Ngự sử đài), Lục khoa và Giám sát ngự sử của 16 đạo được thành lập để phụ trách thanh tra, giám sát hoạt động của quan lại từ trung ương đến địa phương [Tr.5]. Chế độ kinh lược đại sứ, chế độ khảo khóa và chế độ hồi tỵ cũng là những biện pháp ngăn chặn tiêu cực lịch sử hiệu quả. Chế độ khảo khóa định kỳ đánh giá hiệu suất và đạo đức của quan lại, trong khi chế độ hồi tỵ ngăn chặn quan lại làm quan ở quê hương để tránh tạo bè phái và cửa quyền. Các hoạt động thanh tra, giám sát của Tam pháp ty cũng góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước [Tr.28]. Những nỗ lực này cho thấy sự quan tâm của triều đình trong việc xây dựng một đội ngũ quan lại có đạo đức công vụ thời phong kiến cao, hướng tới sự thanh liêm quan lại Việt Nam. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của những giải pháp này vẫn còn là một dấu hỏi lớn, khi tình trạng tiêu cực vẫn tồn tại dai dẳng trong suốt chiều dài lịch sử Triều Nguyễn.

3.1. Pháp luật chống tham nhũng nhà Nguyễn Hoàng triều luật lệ

"Hoàng triều luật lệ", hay còn gọi là bộ luật Gia Long, là văn bản pháp lý quan trọng nhất của Triều Nguyễn, ban hành năm 1815 [Tr.14]. Bộ luật này được xây dựng trên cơ sở kế thừa và sao chép phần lớn từ bộ luật nhà Thanh, nhưng có sự điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Nó là một trong những pháp luật chống tham nhũng nhà Nguyễn toàn diện nhất, quy định chi tiết các tội danh và hình phạt đối với hành vi tiêu cực quan lại Triều Nguyễn. Các hành vi như tham nhũng Triều Nguyễn, hối lộ quan lại nhà Nguyễn, biển thủ công quỹ, lạm quyền, nhũng nhiễu dân chúng đều được quy định rõ ràng mức độ xử lý [Tr.14]. Bộ luật thể hiện rõ chính sách của vua Nguyễn về tiêu cực là trấn áp mạnh mẽ. Các hình phạt rất hà khắc, từ giáng chức, biếm chức, đoạt chức, đến xử tử, tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Mục đích của việc áp dụng hình pháp nặng là để răn đe, duy trì kỷ cương và củng cố quyền lực chuyên chế của hoàng đế, một biện pháp ngăn chặn tiêu cực lịch sử quan trọng.

3.2. Cải cách hành chính Triều Nguyễn và cơ chế giám sát quan lại

Bên cạnh pháp luật, cải cách hành chính Triều Nguyễn và các cơ chế giám sát đóng vai trò then chốt trong giải pháp cải tổ quan lại. Vua Minh Mạng nổi bật với cuộc cải cách hành chính sâu rộng từ năm 1831-1832, chia cả nước thành 30 tỉnh, tăng cường sự quản lý tập trung của triều đình [Tr.13]. Điều này nhằm tinh gọn bộ máy và giảm bớt quyền hạn của các cấp địa phương, hạn chế khả năng lạm dụng quyền lực phong kiến. Các cơ quan giám sát như Đô sát viện (phụ trách thanh tra quan lại), Lục khoa và Giám sát ngự sử của 16 đạo đã được thiết lập để kiểm soát hành vi của quan lại [Tr.5]. Chế độ khảo khóa định kỳ đánh giá năng lực và đạo đức của quan lại, khuyến khích sự thanh liêm quan lại Việt Nam. Chế độ hồi tỵ (không cho quan lại làm quan tại quê hương mình) nhằm ngăn chặn tình trạng bè phái, gia đình trị và vấn đề cửa quyền thời Nguyễn. Những cơ chế này phản ánh nỗ lực của triều Nguyễn trong việc xây dựng một hệ thống công quyền Triều Nguyễn trong sạch và hiệu quả hơn.

IV. Đánh Giá Hiệu Quả Cải Cách Hành Chính Pháp Luật Chống Tham Nhũng

Dù đã ban hành nhiều giải pháp cải tổ quan lại và áp dụng pháp luật chống tham nhũng nhà Nguyễn nghiêm khắc, hiệu quả thực tiễn của các biện pháp này trong việc đối phó với tiêu cực quan lại Triều Nguyễn vẫn còn hạn chế. Triều Nguyễn đã có những thành công bước đầu trong việc trấn áp một số vụ án tham nhũng Triều Nguyễn nổi cộm, xử lý nhiều quan lại vi phạm, từ đó củng cố kỷ cương và răn đe một phần. Các cải cách hành chính Triều Nguyễn dưới thời Minh Mạng đã giúp tinh gọn bộ máy, tăng cường quản lý tập trung và hạn chế quyền hạn của các quan địa phương, tạo ra một hệ thống công quyền Triều Nguyễn có vẻ chặt chẽ hơn [Tr.13]. Việc thiết lập các cơ quan giám sát như Đô sát viện cũng thể hiện nỗ lực của triều đình trong việc kiểm soát hành vi của quan lại.

Tuy nhiên, những nỗ lực này chưa thể xóa bỏ hoàn toàn tình trạng tiêu cực quan lại Triều Nguyễn. Nhiều nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễn sâu xa đã cản trở hiệu quả của các giải pháp. Bản chất chuyên chế, quan liêu của triều đại, nơi mọi quyền hành tập trung vào tay vua, đã tạo ra một hệ thống dễ bị lạm dụng. Tư tưởng bảo thủ, duy trì học thuyết Khổng Mạnh lỗi thời, cùng với việc đề cao danh vọng, địa vị hơn là phẩm chất thực tế, đã khiến suy đồi đạo đức quan trường trở nên phổ biến [Tr.5]. Quan lại, đặc biệt là ở các cấp địa phương, vẫn lợi dụng các kẽ hở trong quy định, hoặc sự thiếu minh bạch của hệ thống để thực hiện hành vi hối lộ quan lại nhà Nguyễn, lạm dụng quyền lực phong kiến và bóc lột dân chúng.

Ảnh hưởng của tiêu cực đến Triều Nguyễn là vô cùng nặng nề. Tình trạng tham nhũng Triều Nguyễn không ngừng làm suy yếu tài chính quốc gia, gây thất thoát ngân sách và cản trở các dự án phát triển. Nó làm giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền, dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân rầm rộ, làm gia tăng mâu thuẫn xã hội và khiến đất nước ngày càng rối ren [Tr.14]. Hơn nữa, việc tập trung vào hình pháp và các biện pháp hành chính mà thiếu đi sự thay đổi căn bản về tư tưởng và đạo đức trong đội ngũ quan lại đã khiến các giải pháp chỉ dừng lại ở bề mặt, không giải quyết được gốc rễ vấn đề. Nền tảng đạo đức công vụ thời phong kiến bị xói mòn, dẫn đến sự suy yếu toàn diện của Triều Nguyễn trước các thách thức nội bộ và ngoại xâm.

4.1. Thực tiễn hiệu quả các biện pháp chống tiêu cực của Triều Nguyễn

Thực tiễn cho thấy, các chính sách của vua Nguyễn về tiêu cực đã đạt được một số hiệu quả nhất định trong việc trấn áp tham nhũng Triều Nguyễn. Việc ban hành "Hoàng triều luật lệ" và thiết lập các cơ quan giám sát như Đô sát viện là nỗ lực đáng ghi nhận. Nhiều quan lại vi phạm đã bị trừng trị, như trường hợp Thống lĩnh Hà Công Thái tự ý bổ dụng người thân bị vua Gia Long trách phạt nặng nề [Tr.40]. Các vụ án hối lộ quan lại nhà Nguyễn trong quản lý quân đội hay tư pháp cũng được đưa ra xét xử, nhằm duy trì kỷ cương phép nước [Tr.35-39]. Các cải cách hành chính Triều Nguyễn của vua Minh Mạng đã giúp tập trung quyền lực, giảm thiểu sự cát cứ của các thế lực địa phương và củng cố hệ thống công quyền Triều Nguyễn. Những biện pháp này đã tạo ra một khung pháp lý và hành chính chặt chẽ hơn, thể hiện ý chí của triều đình trong việc hạn chế tiêu cực.

4.2. Những hạn chế và thách thức trong kiểm soát tiêu cực quan lại

Mặc dù có nhiều nỗ lực, kiểm soát tiêu cực quan lại Triều Nguyễn vẫn đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức. Một trong những nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễn sâu xa là bản chất quan liêu, bảo thủ của triều đại. Hệ thống chính trị chuyên chế tuyệt đối, với quyền lực tập trung cao độ vào nhà vua, thiếu cơ chế kiểm soát và đối trọng hiệu quả, tạo điều kiện cho lạm dụng quyền lực phong kiến [Tr.5]. Tư tưởng Khổng Mạnh lỗi thời, cùng với lối học tầm chương trích cú, đã tạo ra một tầng lớp quan lại thiếu sáng tạo, nhưng lại tự mãn và tham lam danh lợi [Tr.5, 22]. Sự thiếu đồng bộ và không triệt để của các giải pháp cải tổ quan lại cũng là một hạn chế. Dù có luật lệ nghiêm khắc, việc thực thi đôi khi còn lỏng lẻo. Ảnh hưởng của tiêu cực đến Triều Nguyễn là sự suy yếu tài chính, lòng dân ly tán, và sự mất niềm tin vào chính quyền, góp phần vào sự sụp đổ của vương triều.

V. Bài Học Lịch Sử Từ Tiêu Cực Quan Lại Triều Nguyễn Cho Hiện Đại

Nghiên cứu về tiêu cực quan lại Triều Nguyễn không chỉ là nhìn lại quá khứ mà còn là nguồn tài liệu quý giá để rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc cho công tác xây dựng bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ hiện nay. Lịch sử tham nhũng Việt Nam đã chỉ ra rằng, bất kỳ triều đại hay chế độ nào, nếu không giải quyết triệt để vấn đề đạo đức công vụ và kiểm soát quyền lực, đều khó tránh khỏi sự suy yếu và sụp đổ. Những thất bại và thành công (dù hạn chế) của triều Nguyễn trong cuộc chiến chống tiêu cực vẫn còn nguyên giá trị tham khảo.

Bài học đầu tiên là về tầm quan trọng của đạo đức công vụ thời phong kiến và tính thanh liêm quan lại Việt Nam. Dù hệ thống Nho giáo có những hạn chế nhất định, nó vẫn đặt ra những yêu cầu cao về phẩm chất, đạo đức của người làm quan. Sự suy đồi đạo đức quan trường là một trong những nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễn chính yếu dẫn đến sự bất ổn. Trong bối cảnh hiện đại, việc bồi dưỡng đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ cấp bách. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” [Tr.6]. Điều này cho thấy vấn đề đạo đức vẫn là thách thức lớn, đòi hỏi các giải pháp cải tổ quan lại liên tục và quyết liệt.

Thứ hai, việc xây dựng pháp luật chống tham nhũng nhà Nguyễn dù hà khắc nhưng cho thấy ý chí của người cầm quyền trong việc kiểm soát tiêu cực. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi pháp luật và cơ chế giám sát mới là yếu tố quyết định. Trong thời đại ngày nay, việc hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường các biện pháp ngăn chặn tiêu cực lịch sử thông qua hệ thống thanh tra, kiểm tra, giám sát độc lập là cực kỳ cần thiết. Đặc biệt, việc công khai, minh bạch thông tin và sự tham gia giám sát của nhân dân là yếu tố mà triều Nguyễn còn thiếu. Cuối cùng, việc tạo dựng một nền công bằng xã hội Triều Nguyễn là điều kiện tiên quyết để triệt tiêu các nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễn nảy sinh từ sự bất mãn, chênh lệch giàu nghèo. Những vụ án tham nhũng thời Nguyễn đã làm mất đi niềm tin của dân chúng. Bài học này nhắc nhở rằng, mọi cải cách hành chính hay hiện đại đều phải hướng tới lợi ích của nhân dân, đảm bảo công bằng và an sinh xã hội.

5.1. Giá trị của đạo đức công vụ thời phong kiến trong bối cảnh mới

Mặc dù hệ thống đạo đức công vụ thời phong kiến Triều Nguyễn có những hạn chế, những giá trị cốt lõi như liêm khiết, chính trực, vì dân vẫn còn ý nghĩa quan trọng. Triều Nguyễn đã nỗ lực xây dựng đội ngũ quan lại theo khuôn mẫu Nho giáo, đề cao "trung quân ái quốc" và "thanh liêm" [Tr.5]. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh sự suy đồi đạo đức quan trường vẫn diễn ra. Bài học này nhấn mạnh rằng, việc bồi dưỡng đạo đức công vụ cần đi sâu vào bản chất, không chỉ là hình thức. Trong bối cảnh hiện đại, yêu cầu về thanh liêm quan lại Việt Nam càng trở nên cấp thiết. Vấn đề tiêu cực quan lại Triều Nguyễn gợi nhắc rằng, nếu thiếu sự tu dưỡng về nhân cách và sự giác ngộ từ tâm, đạo đức sẽ trở nên sáo rỗng, xa rời thực tế [Tr.7]. Xây dựng công bằng xã hội Triều Nguyễn cũng là một phần không thể thiếu của đạo đức công vụ, đảm bảo mọi người dân được đối xử công bằng, không bị lạm dụng quyền lực phong kiến hay nhũng nhiễu.

5.2. Liên hệ vấn đề tiêu cực Triều Nguyễn với công tác phòng chống tham nhũng hiện nay

Lịch sử tham nhũng Việt Nam dưới Triều Nguyễn cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức và phương pháp phòng chống tiêu cực. Dù bối cảnh lịch sử khác biệt, những nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễn như sự tập trung quyền lực, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả, và sự suy đồi đạo đức quan trường vẫn còn những điểm tương đồng với các vấn đề hiện đại. Các biện pháp ngăn chặn tiêu cực lịch sử của Triều Nguyễn, như xây dựng luật lệ, cơ quan giám sát, chế độ khảo khóa và hồi tỵ, vẫn là những nguyên tắc cơ bản trong công tác phòng chống tham nhũng hiện nay. Ngày nay, việc học hỏi từ những giải pháp cải tổ quan lại trong quá khứ là cần thiết để hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường hiệu quả các cơ quan chống tham nhũng. Đẩy mạnh cải cách hành chính hiện đại, đảm bảo minh bạch, trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát của nhân dân là chìa khóa để xây dựng một đội ngũ cán bộ thanh liêm quan lại Việt Nam.

VI. Tóm Lược Tiêu Cực Quan Lại Triều Nguyễn Hướng Tới Nền Hành Chính Trong Sạch

Nhìn lại toàn bộ bức tranh về tiêu cực quan lại Triều Nguyễn, có thể thấy đây là một vấn đề phức tạp, ăn sâu vào cấu trúc và vận hành của bộ máy nhà nước quân chủ. Từ những ngày đầu thành lập đến giai đoạn suy yếu, triều Nguyễn luôn phải đối mặt với các hình thức tham nhũng Triều Nguyễn, hối lộ quan lại nhà Nguyễn, và lạm dụng quyền lực phong kiến. Các hiện tượng này biểu hiện đa dạng trong quản lý quân đội, xét xử hình án, bổ dụng quan lại, và đặc biệt là trong quản lý tài sản công và thuế khóa, gây ra nhiều vụ án tham nhũng thời Nguyễn nghiêm trọng. Những hành vi này không chỉ gây thất thoát tài sản, làm suy yếu quốc gia mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào hệ thống công quyền Triều Nguyễn, đẩy xã hội vào tình trạng bất ổn và mâu thuẫn sâu sắc.

Triều Nguyễn đã nhận thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề và không ngừng đưa ra các giải pháp cải tổ quan lại. Việc ban hành "Hoàng triều luật lệ" là một trong những pháp luật chống tham nhũng nhà Nguyễn quan trọng nhất, quy định các hình phạt hà khắc đối với hành vi tiêu cực. Đồng thời, các cải cách hành chính Triều Nguyễn dưới thời Minh Mạng đã nỗ lực tinh gọn bộ máy và tập trung quyền lực. Các cơ quan giám sát như Đô sát viện, cùng các chế độ khảo khóa, hồi tỵ, cũng được thiết lập như những biện pháp ngăn chặn tiêu cực lịch sử. Những chính sách của vua Nguyễn về tiêu cực này cho thấy ý chí của triều đình trong việc duy trì kỷ cương và hướng tới sự thanh liêm quan lại Việt Nam.

Tuy nhiên, hiệu quả của những giải pháp này còn hạn chế, chủ yếu do các nguyên nhân tiêu cực Triều Nguyễn sâu xa như bản chất quan liêu, bảo thủ của chế độ, sự suy đồi đạo đức quan trường và thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực thực sự hiệu quả. Ảnh hưởng của tiêu cực đến Triều Nguyễn là không thể phủ nhận, góp phần vào sự suy yếu tổng thể của vương triều. Từ đó, bài học lịch sử về đạo đức công vụ thời phong kiến và tầm quan trọng của sự liêm chính vẫn còn nguyên giá trị cho hiện tại. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về quá khứ mà còn đóng góp vào việc định hình các chính sách và hành động phòng chống tham nhũng trong tương lai, hướng tới một nền hành chính thực sự trong sạch và vững mạnh.

6.1. Tổng kết thực trạng và những nỗ lực giải quyết vấn đề tiêu cực

Thực trạng tiêu cực quan lại Triều Nguyễn là một vấn đề nan giải, biểu hiện qua nhiều hình thức như tham nhũng Triều Nguyễn, hối lộ quan lại nhà Nguyễn, và lạm dụng quyền lực phong kiến. Các vụ án tham nhũng thời Nguyễn đã làm suy yếu tài chính quốc gia, gây mất lòng tin của nhân dân vào hệ thống công quyền Triều Nguyễn. Từ các quan quản lý quân đội, tư pháp, đến những người phụ trách tài sản công và thuế khóa, đều có những hành vi sai phạm nghiêm trọng [Tr.35-49]. Điều này cho thấy sự suy đồi đạo đức quan trường đã trở thành căn bệnh phổ biến. Đối diện với thực trạng này, triều Nguyễn đã có những nỗ lực đáng kể trong giải pháp cải tổ quan lại. "Hoàng triều luật lệ" được ban hành với các quy định nghiêm khắc. Các cải cách hành chính Triều Nguyễn của vua Minh Mạng nhằm tinh gọn bộ máy và tập trung quyền lực, cùng các cơ quan giám sát như Đô sát viện.

6.2. Triển vọng xây dựng đội ngũ cán bộ thanh liêm và vững mạnh

Từ bài học về tiêu cực quan lại Triều Nguyễn, triển vọng xây dựng đội ngũ cán bộ thanh liêm quan lại Việt Nam trong hiện tại trở nên rõ nét hơn. Việc kế thừa những giá trị tích cực của đạo đức công vụ thời phong kiến, đồng thời khắc phục những hạn chế của một hệ thống công quyền Triều Nguyễn thiếu kiểm soát, là cần thiết. Để xây dựng một nền hành chính trong sạch, cần tập trung vào việc hoàn thiện thể chế pháp luật, tăng cường các cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, và đẩy mạnh công khai, minh bạch. Cải cách hành chính liên tục là yếu tố sống còn để loại bỏ các kẽ hở cho tiêu cực. Bồi dưỡng đạo đức, nâng cao phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn cho cán bộ là ưu tiên hàng đầu. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân và các tổ chức xã hội sẽ góp phần đáng kể vào việc ngăn chặn tham nhũng Triều Nguyễn. Hướng tới đội ngũ cán bộ vì dân, công bằng và liêm chính là mục tiêu mà mỗi quốc gia cần theo đuổi.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho triều đại nhà Nguyễn. Vua Gia Long bắt đầu tổ chức lại bộ máy nhà nước, ban hành các chính sách, củng cố quân đội nhằm ổn định xã hội, ổn định quyền thống trị của giai cấp quân chủ và đối phó từ những tác động từ bên ngoài. Chính quyền trung ương được tổ chức như các triều đại trước. Đứng đầu là vua, nắm mọi quyền hành.

Để tập trung hơn nữa quyền lực vào tay mình, các vua Nguyễn đặt ra lệ “tứ bất” (không đặt hoàng hậu, không đặt tể tướng, không lấy trạng nguyên, không phong vương cho người ngoài họ). Nhà Nguyễn tiếp tục tái độc tôn Nho giáo nhằm củng cố và bảo vệ địa vị, quyền lợi của triều đại quân chủ thống trị. Thực chất của đường lối, chủ trương chính trị triều Nguyễn là loại bỏ các âm mưu bạo loạn và trừng trị các cuộc khởi nghĩa chống phá triều đình của nhân dân và các thế lực cát cứ, phản loạn khác. Thời Gia Long, nước ta chia làm 3 vùng: Bắc Thành (từ Ninh Bình trở ra Bắc), Gia Định Thành (từ Bình Thuận trở vào Nam) và các Trực Doanh (Trung Bộ) do triều đình trực tiếp cai quản.

Chính quyền Trung ương quản lý trực tiếp từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Còn lại hai khu tự trị là Bắc thành và Gia Định thành do Tổng trấn toàn quyền. Đó là giải pháp tình thế của vua Gia Long trong bối cảnh thời gian đầu lên ngôi. Trong năm 1831 - 1832, vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính, chia cả nước thành 30 tỉnh và một Phủ Thừa Thiên.

Đứng đầu là Tổng đốc, Tuần phủ hoạt động theo sự điều hành của triều đình. Sự phân chia hành chính này của Minh Mạng được xem là dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp về mặt địa lý, dân cư, phong tục tập quán địa phương phù hợp với phạm vi quản lý của một tỉnh; đồng thời là cơ sở để phân chia các tỉnh như ngày nay. Vì vậy, cải cách hành chính của Minh Mạng được các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao. Triều Nguyễn xác định rất rõ đường lối trị nước kết hợp giữa giáo hóa và hình pháp, tuy nhiên hình pháp chỉ là giải pháp nhất thời, trong một giai đoạn và bối cảnh lịch sử nhất định, còn giáo hóa được coi là phương tiện tư tưởng căn bản để thu phục nhân tâm, cai trị 13 đất nước.Với mục đích tập trung tất cả quyền lực vào tay, các vua Nguyễn đã dần dần xây dựng một hệ thống chính quyền phục vụ cho quyền lợi tập đoàn quân chủ của mình.

Trên tinh thần trị nước kết hợp Nho và Pháp, triều Nguyễn đã tổ chức triều đình gồm 6 Bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) chịu trách nhiệm chỉ đạo công việc chung của Nhà nước. Ngoài ra có Đô sát viện (Ngự sử đài cũ) phụ trách thanh tra quan lại; Hàn lâm Viện phụ trách sắc dụ, công văn; Tôn nhân phủ là cơ quan quản lý công việc của Hoàng tộc, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Nội vụ phủ phụ trách kho tàng,. Giúp vua còn có Văn thư phòng, đến thời Minh Mạng đặt thêm Nội các, chuyên lo việc công văn giấy tờ và đi theo vua. Sang đời Minh Mạng, tính chất chuyên chế chính trị phát triển cao độ song song với việc hạn chế quyền hành của các cấp địa phương.

Vua Minh Mạng cũng đặt thêm Viện cơ mật gồm 4 viên đại thần chuyên bàn với vua các việc “quân quốc trọng sự”. Có thể thấy rằng bộ máy nhà nước quân chủ được nhà Nguyễn tổ chức theo thiết chế quân chủ chuyên chế, tập trung mọi quyền hành vào tay nhà vua. Đây là sự tiếp tục thiết chế quân chủ thời Lê, nhưng được nâng lên mức tập trung cao hơn. Đường lối vương đạo Nho gia mà các vua triều Nguyễn sử dụng làm tư tưởng trị nước vừa là phương tiện giáo hóa dân chúng, vừa là mục đích xây dựng thái hòa trên cơ sở đạo đức, phân biệt với đường lôi bá đạo lấy sức mạnh, pháp luật để cai trị, chinh phục như Gia Long đã từng nói “Đạo trị dân, giáo hóa vẫn nên làm trước” [36, tr.

Với việc tiếp tục sử dụng Nho giáo như một công cụ thống trị về tư tưởng trong nhân dân nhưng đẩy mạnh mang tính tập trung, chuyên chế của triều Nguyễn đã gây ra một hệ quả tiêu cực đó là làm cho giai cấp thống trị ngày càng chuyên quyền. Cũng như ở thế kỷ XVIII, quan lại thời Nguyễn luôn tìm cách hạch sách nhân dân, chiếm đoạt tiền của. Nạn quan lại tham nhũng là một trong những nguyên nhân chính của phong trào nông dân rầm rộ. Trước tình trạng xã tắc đầy rẫy những rối ren như vậy, năm 1815, nhà Nguyễn ban hành bộ luật “Hoàng triều luật lệ”.

Bộ luật hầu như sao chép lại bộ luật nhà Thanh đương thời, gồm tất cả 398 điều chia thành 7 chương và 30 điều “tạp tụng”. Đây là một bộ luật hà khắc, phản ánh rõ nét tư tưởng chuyên chế của giai cấp thống trị trên bước đường suy vong. Mọi tội phạm liên quan đến việc chống đối triều đình đều bị trừng trị tàn bạo. Trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, sau khi đánh bại được triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã sai người sang hỏi Tổng đốc Lưỡng Quảng về cách bang giao.

Tiếp đó vua cử sứ đoàn Lê Quang Định dẫn đầu sang nhà Thanh xin cầu phong quốc ấn và niên hiệu. Từ đó cứ 4 năm một lần, triều Nguyễn cử sứ bộ sang nộp 2 lần lễ cống. 14 Thái độ của nhà Nguyễn trong quan hệ với nhà Thanh là thần phục một cách mù quáng. Trong lúc đó nhà Nguyễn lại dùng lực lượng quân sự khống chế Cao Miên, đặt thành Trấn Tây, bắt Lào thần phục.

Quan hệ với Xiêm cũng thất thường, lúc thân thiện, hòa hoãn, lúc tranh chấp. Chính sách hạn chế giao thương trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn là một phần nhỏ trong toàn bộ chính sách “trọng nông ức thương”. Rõ ràng về mặt thực tế chính sách này đã kìm hãm nền công thương nghiệp của nhà Nguyễn và hệ quả là Việt Nam trở thành một nước quân chủ cô lập, khép kín về thương mại, ngoại giao và trở nên lạc hậu. Về đối nội, điều này đã làm cho đất nước thâm hụt nguồn lợi nhuận thông qua việc trao đổi, mua bán hàng hóa với các nước láng giềng, nguồn thu nhập của nhà nước và của những tư nhân sản xuất đều sút giảm, mâu thuẫn giữa triều đình và nhân dân ngày càng tăng cao, gây ra sự chia rẽ dân tộc.

Chính sách “trọng nông ức thương” cũng chi phối mối quan hệ của nhà Nguyễn với các nước phương Tây. Từ thế kỷ XVIII, chủ nghĩa thực dân phương Tây ngày càng phát triển, các nước Anh, Pháp, Hà Lan đua nhau, tranh chấp nhau xâm chiếm các nước nhỏ yêu ở châu Phi, châu Á làm thuộc địa. Việc “Đóng cửa” cự tuyệt với các nước phương Tây trở thành quốc sách của triều Nguyễn. Điều này càng thúc đẩy Pháp xâm lược nước ta, làm đất nước ngày càng lún sâu vào tình trạng trì trệ, lạc hậu đến nỗi suy kiệt khả năng tự vệ.

Tình hình kinh tế - xã hội Bức tranh kinh tế - xã hội dưới triều Nguyễn mang rất nhiều những sắc thái khác nhau. Nhắc đến kinh tế triều Nguyễn, bên cạnh màu sắc ảm đạm của một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán, hạn chế thương nghiệp và kìm kẹp thủ công nghiệp, ruộng đất phần lớn tập trung trong tay địa chủ thì dưới triều Nguyễn kinh tế cũng có những bước tiến nhất định trong nông nghiệp, thương nghiệp và sự tinh xảo trong thủ công nghiệp, mở mang khai hoang nhiều vùng đất, xúc tiến nội thương trên cơ sở thống nhất đất nước. Trước tình hình kinh tế có những biến đổi nhất định, tình hình xã hội dưới triều Nguyễn cũng khá phức tạp, vẫn với sự mâu thuẫn chính yếu giữa địa chủ phong kiến (giai cấp thống trị) và nông dân (giai cấp bị trị), trong thời gian này dưới những tác động của những yếu tố khác nhau về lịch sử, tự nhiên, các tác nhân chủ quan đã đẩy những mâu thuẫn xã hội dần lên đến đỉnh cao đến mức khó có thể dung hòa được, thổi bùng lên một loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân. Thứ nhất là trong nông nghiệp.

Bước sang đầu thế kỉ XIX, tình hình ruộng đất đặt ra cho triều Nguyễn những bất cập cần có phương án giải quyết thích hợp. Những khó khăn đó 15 xuất phát từ diện tích ruộng đất công còn rất ít. Theo thống kê của bộ Hộ năm 1840, tổng diện tích đất thực canh là 6.893 mẫu, trong đó tổng diện tích ruộng là 3.584 mẫu công tư, trong số này có 2.221 mẫu ruộng tư và 580.363 mẫu ruộng công (tức 17%) [57, tr. Qua những con số biết nói này, tình hình ruộng đất đã được phản ánh một cách rõ nét, đó là sự tập trung phần lớn ruộng đất vào tay địa chủ, sự suy sụp của chế độ chiếm hữu ruộng đất công và sự phát triển mạnh mẽ của chế độ tư hữu về ruộng đất, nông dân phiêu tán, trông chờ mòn mỏi vào số ruộng công ít ỏi.

Tình hình này thể hiện qua lời nhận xét của Phan Huy Chú: “Nước ta duy có trấn Sơn Nam Hạ là rất nhiều ruộng đất và bãi công, phép quân cấp chỉ nên làm ở chỗ ấy là phải, còn các xứ khác thì hạng ruộng công không có mấy, dù xứ nào đi nữa thì cũng chỉ đủ cung cấp binh lương và ngụ lộc không thể san chia cho các hạng” [8, tr. Để giải quyết tình trạng này, năm 1804, Gia Long ban hành phép quân điền, theo đó tất cả mọi người đều được chia ruộng đất công ở xã, trừ các quý tộc vương tôn được cấp 18 phần, quan lại nhất phầm được cấp 15 phần, cứ tuần tự hạ mức cho đến dân nghèo được 3 phần. Chính sách quân điền vẫn tiếp tục được tiến hành đến cuối thời Minh Mạng, không những ở miền Bắc mà miền Nam cũng được áp dụng, tuy nhiên, chính sách quân điền nhìn chung là không có tác dụng đáng kể. Không những vậy, dưới tác động của thiên tai như lũ lụt hạn hán đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Năm 1803, trận lụt lớn làm vỡ đê ở Bắc Thành, liên tiếp sau đó từ 1802 - 1858 cả nước đã phải gánh chịu 38 lần mưa bão, lụt lội lớn kéo theo đó là mất mùa, đói kém, 16 lần vỡ đê [57, tr. Chính những tác động trên đã khiến cho hàng loạt nông dân phiêu tán, hàng trăm ngàn mẫu ruộng đất bị bỏ hoang, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và làm thất thu ngân quỹ nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ