mở đầu cho triều đại nhà Nguyễn. Vua Gia Long bắt đầu tổ chức lại bộ máy nhà nước, ban hành các chính sách, củng cố quân đội nhằm ổn định xã hội, ổn định quyền thống trị của giai cấp quân chủ và đối phó từ những tác động từ bên ngoài. Chính quyền trung ương được tổ chức như các triều đại trước. Đứng đầu là vua, nắm mọi quyền hành.
Để tập trung hơn nữa quyền lực vào tay mình, các vua Nguyễn đặt ra lệ “tứ bất” (không đặt hoàng hậu, không đặt tể tướng, không lấy trạng nguyên, không phong vương cho người ngoài họ). Nhà Nguyễn tiếp tục tái độc tôn Nho giáo nhằm củng cố và bảo vệ địa vị, quyền lợi của triều đại quân chủ thống trị. Thực chất của đường lối, chủ trương chính trị triều Nguyễn là loại bỏ các âm mưu bạo loạn và trừng trị các cuộc khởi nghĩa chống phá triều đình của nhân dân và các thế lực cát cứ, phản loạn khác. Thời Gia Long, nước ta chia làm 3 vùng: Bắc Thành (từ Ninh Bình trở ra Bắc), Gia Định Thành (từ Bình Thuận trở vào Nam) và các Trực Doanh (Trung Bộ) do triều đình trực tiếp cai quản.
Chính quyền Trung ương quản lý trực tiếp từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Còn lại hai khu tự trị là Bắc thành và Gia Định thành do Tổng trấn toàn quyền. Đó là giải pháp tình thế của vua Gia Long trong bối cảnh thời gian đầu lên ngôi. Trong năm 1831 - 1832, vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính, chia cả nước thành 30 tỉnh và một Phủ Thừa Thiên.
Đứng đầu là Tổng đốc, Tuần phủ hoạt động theo sự điều hành của triều đình. Sự phân chia hành chính này của Minh Mạng được xem là dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp về mặt địa lý, dân cư, phong tục tập quán địa phương phù hợp với phạm vi quản lý của một tỉnh; đồng thời là cơ sở để phân chia các tỉnh như ngày nay. Vì vậy, cải cách hành chính của Minh Mạng được các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao. Triều Nguyễn xác định rất rõ đường lối trị nước kết hợp giữa giáo hóa và hình pháp, tuy nhiên hình pháp chỉ là giải pháp nhất thời, trong một giai đoạn và bối cảnh lịch sử nhất định, còn giáo hóa được coi là phương tiện tư tưởng căn bản để thu phục nhân tâm, cai trị 13 đất nước.Với mục đích tập trung tất cả quyền lực vào tay, các vua Nguyễn đã dần dần xây dựng một hệ thống chính quyền phục vụ cho quyền lợi tập đoàn quân chủ của mình.
Trên tinh thần trị nước kết hợp Nho và Pháp, triều Nguyễn đã tổ chức triều đình gồm 6 Bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) chịu trách nhiệm chỉ đạo công việc chung của Nhà nước. Ngoài ra có Đô sát viện (Ngự sử đài cũ) phụ trách thanh tra quan lại; Hàn lâm Viện phụ trách sắc dụ, công văn; Tôn nhân phủ là cơ quan quản lý công việc của Hoàng tộc, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Nội vụ phủ phụ trách kho tàng,. Giúp vua còn có Văn thư phòng, đến thời Minh Mạng đặt thêm Nội các, chuyên lo việc công văn giấy tờ và đi theo vua. Sang đời Minh Mạng, tính chất chuyên chế chính trị phát triển cao độ song song với việc hạn chế quyền hành của các cấp địa phương.
Vua Minh Mạng cũng đặt thêm Viện cơ mật gồm 4 viên đại thần chuyên bàn với vua các việc “quân quốc trọng sự”. Có thể thấy rằng bộ máy nhà nước quân chủ được nhà Nguyễn tổ chức theo thiết chế quân chủ chuyên chế, tập trung mọi quyền hành vào tay nhà vua. Đây là sự tiếp tục thiết chế quân chủ thời Lê, nhưng được nâng lên mức tập trung cao hơn. Đường lối vương đạo Nho gia mà các vua triều Nguyễn sử dụng làm tư tưởng trị nước vừa là phương tiện giáo hóa dân chúng, vừa là mục đích xây dựng thái hòa trên cơ sở đạo đức, phân biệt với đường lôi bá đạo lấy sức mạnh, pháp luật để cai trị, chinh phục như Gia Long đã từng nói “Đạo trị dân, giáo hóa vẫn nên làm trước” [36, tr.
Với việc tiếp tục sử dụng Nho giáo như một công cụ thống trị về tư tưởng trong nhân dân nhưng đẩy mạnh mang tính tập trung, chuyên chế của triều Nguyễn đã gây ra một hệ quả tiêu cực đó là làm cho giai cấp thống trị ngày càng chuyên quyền. Cũng như ở thế kỷ XVIII, quan lại thời Nguyễn luôn tìm cách hạch sách nhân dân, chiếm đoạt tiền của. Nạn quan lại tham nhũng là một trong những nguyên nhân chính của phong trào nông dân rầm rộ. Trước tình trạng xã tắc đầy rẫy những rối ren như vậy, năm 1815, nhà Nguyễn ban hành bộ luật “Hoàng triều luật lệ”.
Bộ luật hầu như sao chép lại bộ luật nhà Thanh đương thời, gồm tất cả 398 điều chia thành 7 chương và 30 điều “tạp tụng”. Đây là một bộ luật hà khắc, phản ánh rõ nét tư tưởng chuyên chế của giai cấp thống trị trên bước đường suy vong. Mọi tội phạm liên quan đến việc chống đối triều đình đều bị trừng trị tàn bạo. Trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, sau khi đánh bại được triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã sai người sang hỏi Tổng đốc Lưỡng Quảng về cách bang giao.
Tiếp đó vua cử sứ đoàn Lê Quang Định dẫn đầu sang nhà Thanh xin cầu phong quốc ấn và niên hiệu. Từ đó cứ 4 năm một lần, triều Nguyễn cử sứ bộ sang nộp 2 lần lễ cống. 14 Thái độ của nhà Nguyễn trong quan hệ với nhà Thanh là thần phục một cách mù quáng. Trong lúc đó nhà Nguyễn lại dùng lực lượng quân sự khống chế Cao Miên, đặt thành Trấn Tây, bắt Lào thần phục.
Quan hệ với Xiêm cũng thất thường, lúc thân thiện, hòa hoãn, lúc tranh chấp. Chính sách hạn chế giao thương trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn là một phần nhỏ trong toàn bộ chính sách “trọng nông ức thương”. Rõ ràng về mặt thực tế chính sách này đã kìm hãm nền công thương nghiệp của nhà Nguyễn và hệ quả là Việt Nam trở thành một nước quân chủ cô lập, khép kín về thương mại, ngoại giao và trở nên lạc hậu. Về đối nội, điều này đã làm cho đất nước thâm hụt nguồn lợi nhuận thông qua việc trao đổi, mua bán hàng hóa với các nước láng giềng, nguồn thu nhập của nhà nước và của những tư nhân sản xuất đều sút giảm, mâu thuẫn giữa triều đình và nhân dân ngày càng tăng cao, gây ra sự chia rẽ dân tộc.
Chính sách “trọng nông ức thương” cũng chi phối mối quan hệ của nhà Nguyễn với các nước phương Tây. Từ thế kỷ XVIII, chủ nghĩa thực dân phương Tây ngày càng phát triển, các nước Anh, Pháp, Hà Lan đua nhau, tranh chấp nhau xâm chiếm các nước nhỏ yêu ở châu Phi, châu Á làm thuộc địa. Việc “Đóng cửa” cự tuyệt với các nước phương Tây trở thành quốc sách của triều Nguyễn. Điều này càng thúc đẩy Pháp xâm lược nước ta, làm đất nước ngày càng lún sâu vào tình trạng trì trệ, lạc hậu đến nỗi suy kiệt khả năng tự vệ.
Tình hình kinh tế - xã hội Bức tranh kinh tế - xã hội dưới triều Nguyễn mang rất nhiều những sắc thái khác nhau. Nhắc đến kinh tế triều Nguyễn, bên cạnh màu sắc ảm đạm của một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán, hạn chế thương nghiệp và kìm kẹp thủ công nghiệp, ruộng đất phần lớn tập trung trong tay địa chủ thì dưới triều Nguyễn kinh tế cũng có những bước tiến nhất định trong nông nghiệp, thương nghiệp và sự tinh xảo trong thủ công nghiệp, mở mang khai hoang nhiều vùng đất, xúc tiến nội thương trên cơ sở thống nhất đất nước. Trước tình hình kinh tế có những biến đổi nhất định, tình hình xã hội dưới triều Nguyễn cũng khá phức tạp, vẫn với sự mâu thuẫn chính yếu giữa địa chủ phong kiến (giai cấp thống trị) và nông dân (giai cấp bị trị), trong thời gian này dưới những tác động của những yếu tố khác nhau về lịch sử, tự nhiên, các tác nhân chủ quan đã đẩy những mâu thuẫn xã hội dần lên đến đỉnh cao đến mức khó có thể dung hòa được, thổi bùng lên một loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân. Thứ nhất là trong nông nghiệp.
Bước sang đầu thế kỉ XIX, tình hình ruộng đất đặt ra cho triều Nguyễn những bất cập cần có phương án giải quyết thích hợp. Những khó khăn đó 15 xuất phát từ diện tích ruộng đất công còn rất ít. Theo thống kê của bộ Hộ năm 1840, tổng diện tích đất thực canh là 6.893 mẫu, trong đó tổng diện tích ruộng là 3.584 mẫu công tư, trong số này có 2.221 mẫu ruộng tư và 580.363 mẫu ruộng công (tức 17%) [57, tr. Qua những con số biết nói này, tình hình ruộng đất đã được phản ánh một cách rõ nét, đó là sự tập trung phần lớn ruộng đất vào tay địa chủ, sự suy sụp của chế độ chiếm hữu ruộng đất công và sự phát triển mạnh mẽ của chế độ tư hữu về ruộng đất, nông dân phiêu tán, trông chờ mòn mỏi vào số ruộng công ít ỏi.
Tình hình này thể hiện qua lời nhận xét của Phan Huy Chú: “Nước ta duy có trấn Sơn Nam Hạ là rất nhiều ruộng đất và bãi công, phép quân cấp chỉ nên làm ở chỗ ấy là phải, còn các xứ khác thì hạng ruộng công không có mấy, dù xứ nào đi nữa thì cũng chỉ đủ cung cấp binh lương và ngụ lộc không thể san chia cho các hạng” [8, tr. Để giải quyết tình trạng này, năm 1804, Gia Long ban hành phép quân điền, theo đó tất cả mọi người đều được chia ruộng đất công ở xã, trừ các quý tộc vương tôn được cấp 18 phần, quan lại nhất phầm được cấp 15 phần, cứ tuần tự hạ mức cho đến dân nghèo được 3 phần. Chính sách quân điền vẫn tiếp tục được tiến hành đến cuối thời Minh Mạng, không những ở miền Bắc mà miền Nam cũng được áp dụng, tuy nhiên, chính sách quân điền nhìn chung là không có tác dụng đáng kể. Không những vậy, dưới tác động của thiên tai như lũ lụt hạn hán đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Năm 1803, trận lụt lớn làm vỡ đê ở Bắc Thành, liên tiếp sau đó từ 1802 - 1858 cả nước đã phải gánh chịu 38 lần mưa bão, lụt lội lớn kéo theo đó là mất mùa, đói kém, 16 lần vỡ đê [57, tr. Chính những tác động trên đã khiến cho hàng loạt nông dân phiêu tán, hàng trăm ngàn mẫu ruộng đất bị bỏ hoang, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và làm thất thu ngân quỹ nhà nước.