Chương 1: Vấn đề văn học quốc ngữ và phê bình Truyện Kiều Chương 2: Vấn đề hiện đại hóa văn học và phê bình Truyện Kiều Chương 3: Những biểu hiện của quan niệm cũ và mới trong phê bình Truyện Kiều PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: VẤN ĐỀ VĂN HỌC QUỐC NGỮ VÀ PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU 1. Bối cảnh lịch sử xã hội đầu thế kỷ XX Ba mươi năm đầu thế kỷ XX là một giai đoạn đặc biệt không chỉ của văn chương mà của cả xã hội Việt Nam nói chung. Sự xâm nhập của người Pháp một cách cưỡng bức lên cơ cấu xã hội hầu như vẫn còn nguyên vẹn tạo nên một hệ quả tất yếu là sự tồn tại kéo dài và sự biến dạng trước khi chuyển hóa của các giai tầng truyền thống. Trong địa hạt văn chương, một hiện tượng độc đáo có thể ghi nhận là sự tồn tại kéo dài dưới dạng biến thể của những loại hình tác giả truyền thống: nhà nho hành đạo trung nghĩa và nhà nho tài tử.
Điển hình cho kiểu nhà nho thứ nhất là những nhân cách vẫn được chính 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sử định danh là những “nhà nho chí sĩ”, những nhà khoa bảng sinh trong những năm 60, 70 của thế kỷ XIX và là người khởi xướng những phong trào đấu tranh với chủ trương duy tân đòi độc lập cho Việt Nam. Những tên tuổi điển hình cho loại tác giả này là Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… Đại diện cho kiểu tác giả thứ hai là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Hai kiểu tác giả nói trên là hai khả năng khác nhau trong việc tiếp nhận di sản văn chương truyền thống và đưa di sản ấy vào trong lòng một xã hội đang biến đổi theo khuynh hướng hiện đại hóa. Chúng ta đều biết, xã hội nước ta những năm đầu thế kỷ này với hai cuộc khai thác thuộc địa, với sự thiết lập và củng cố bộ máy chính quyền của thực dân Pháp đã làm xuất hiện nhiều đô thị kiểu mới và nhiều tầng lớp xã hội mới như tư sản, tiểu tư sản, vô sản, dân nghèo đô thị.
Đó là những lớp người mới có lối sống, thị hiếu và quan điểm thẩm mỹ khác trước. Bên cạnh đó, do nhu cầu đào tạo lớp trí thức mới có trình độ văn hóa để phục vụ cho nhà nước Bảo hộ lâu dài, thực dân Pháp đã cho cho một số thanh niên Việt Nam sang Pháp du học. Tầng lớp trí thức Tây học xuất hiện. Nhiều người đã đi vào hoạt động văn hóa, văn học.
Sự xuất hiện một lớp công chúng độc giả mới, một lớp người hoạt động văn học với quan niệm nghệ thuật mới là yêu cầu tiên quyết buộc văn học phải đổi mới theo hướng hiện đại hóa. Văn chương thời kỳ này không còn là món ăn tinh thần của tầng lớp trí thức trong xã hội nữa mà đã trở thành món ăn bình dân của rất nhiều đối tượng độc giả đặc biệt là tầng lớp thị dân, tiểu tư sản, tư sản đương thời. Sáng tác văn chương cũng không còn là một công việc sang trọng của số ít người có học vấn cao trong xã hội những khi “trà dư, tửu hậu” mà đã dần trở thành một công việc, một nghề có tính đặc trưng của đời sống văn hóa, văn học thời kỳ hiện đại. Các nhà văn chuyên nghiệp lần lượt ra đời và ngày càng đông đảo.
Văn học Việt Nam trong khoảng 40 năm đầu thế kỷ XX đã phát triển hết sức mau lẹ trong quá trình hiện đại hóa một cách toàn 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diện của mình. Chính sự phát triển phong phú, đa dạng với nhiều thành tựu của nền văn học dân tộc lúc ấy đã đòi hỏi sự ra đời của ngành nghiên cứu và phê bình văn học. Bên cạnh đó, do nhu cầu văn hóa, văn học ngày càng cao, ngày càng phong phú của mọi tầng lớp công chúng bạn đọc, báo chí cùng các phương tiện in ấn ra đời, phát triển nhanh chóng và mỗi lúc một hiện đại hóa. Sự ra đời của báo chí cùng sự phát triển của các nhà xuất bản đã góp phần nâng cao dân trí, nâng cao thẩm mỹ cho độc giả, tạo điều kiện cho văn học phát triển mạnh.
Với người sáng tác, người nghiên cứu, phê bình văn học, báo chí chính là nơi thử bút, nơi đăng tải, nơi trình bày quan điểm, phát biểu tư tưởng một cách thuận tiện, kịp thời nhất về các vấn đề văn học nghệ thuật nói chung và từng tác phẩm văn học nói riêng. Trong suốt chín thế kỷ của văn học viết, các thế hệ tác giả văn học Việt Nam đã sử dụng song song hai hệ thống ngôn ngữ để sáng tác đó là chữ Hán và chữ Nôm (được sử dụng phổ biến từ thế kỷ XV). Chữ Quốc ngữ chủ yếu được giáo dân công giáo sử dụng phổ biến vào thế kỷ XIX. Vì thế phải đến lúc người Pháp đặt ách thống trị ở Đông Dương thì chữ Quốc ngữ mới bắt đầu thay thế chữ Hán và chữ Nôm, trở thành thứ văn tự được sử dụng chính thức trong bộ máy hành chính, giáo dục và những sinh hoạt văn hóa tinh thần.
Đối với nhà cầm quyền thực dân, việc sử dụng chữ quốc ngữ trong phạm vi toàn xã hội cho phép họ hạn chế ảnh hưởng của giới trí thức truyền thống, cắt Việt Nam khỏi quỹ đạo đồng văn với Trung Quốc và chuẩn bị cho công cuộc Pháp hóa người bản xứ. Với trí thức Việt Nam, phải đến phong trào Duy Tân, các nhà nho mới vượt qua được định kiến, chữ Hán là “chữ thánh hiền”, chữ quốc ngữ là “chữ Tây”, “chữ quân tà đạo”, để cổ động nhân dân học chữ quốc ngữ. Mặt khác, sang đầu thế kỷ XX, báo chí đã thâm nhập một cách sâu sắc vào đời sống văn hóa tinh thần của nhiều tầng lớp người Việt. Đã xuất hiện 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những tờ báo thuộc về cá nhân, nhóm người Việt, phát triển một cách độc lập với chính quyền thực dân, mặc dù vẫn chịu sự chi phối bởi các luật về báo chí Pháp đề ra… Đối với sự hình thành của văn học mới, báo chí và nhà xuất bản kết hợp lại để tạo ra một môi trường văn hóa mới, những phương thức quan hệ phi truyền thống giữa độc giả và nhà văn, làm thương mại hóa văn học.
Thời kỳ này cũng là thời kỳ mà lớp công chúng thị dân đã xuất hiện, trở thành một lực lượng tiếp nhận văn học mới khá đông đảo cũng có những đòi hỏi và những nhu cầu thẩm mỹ mới. Sức ép để nảy sinh một nền văn học mới bắt nguồn từ hai phía: khách quan và chủ quan, chủ thể và khách thể. Vì thế, xây dựng một nền văn học mới vừa là một đòi hỏi của thời đại xã hội, vừa là một đòi hỏi tự thân của chính văn học… Nhìn vào thực trạng văn hóa, văn học của nước nhà hồi đầu thế kỷ XX cho thấy, những yếu tố cần thiết cho một cuộc cách mệnh văn chương đối với lớp trí thức cũ đã không thể diễn ra. Ngọn cờ đổi mới văn chương phải nằm trong tay những thanh niên trí thức mới Tây học.
Sự đổi mới này cũng cần phải có thời gian, bởi chủ thể sáng tạo mới chưa làm chủ được công cụ sáng tạo. Đó là vấn đề vừa xây dựng vừa làm chủ văn tự mới và tư duy sáng tạo mới. Cần có thời gian khắc phục sự “đứt gãy” về văn hóa, tư duy văn học ở giai đoạn này. Vai trò chuyển tiếp khắc phục đứt gãy văn hóa và tư duy văn học mới đó đã thuộc về báo chí hồi đầu thế kỷ XX, mà ở đó, Nam Phong tạp chí có vị trí là “nguyên thủ” và giữ vai trò chủ đạo trong tương quan với báo chí đương thời.
Đến khi chủ thể sáng tạo đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy văn học mới, ở nước ta văn học mới có sự đổi thay mạnh mẽ. Nam Phong tạp chí là một tờ có tính chất bách khoa toàn thư, đời sống xã hội, văn hóa và văn học của dân tộc Việt Nam trong 17 năm rưỡi hầu như được phản ánh một cách rõ ràng. Vào thời điểm những năm đầu thế kỷ XX, những tri thức “văn học – khoa học” mà tạp chí đem đến cho bạn đọc có lợi ích 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng tri thức, học vấn cho dân tộc. Nam Phong tạp chí (1917-1934) đã ra đời và sinh hoạt giữa những phức tạp của lịch sử chính trị xã hội, văn hóa, văn học của nước nhà những năm đầu thế kỷ XX.
Nhưng dù thế nào thì Nam Phong tạp chí cũng là sản phẩm của một thời kỳ văn hóa, văn học của Việt nam, cần được nghiên cứu khách quan và công bằng. Chủ đích của Nam Phong Nam Phong tạp chí đóng vai trò “mở đầu” trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cùng “ra đời” với một số báo chí và tạp chí khác đương thời, nhưng Nam Phong là tạp chí tựa như đã làm những công việc chuẩn bị một cách cơ bản và khá đầy đủ những yếu tố cần thiết cho một cuộc “sinh nở” – cuộc sinh nở của một nền văn học Việt Nam hiện đại. Nói cách khác, Nam Phong tạp chí đã làm được khá toàn diện những gì cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa văn học.
Trong quá trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà, Nam Phong tạp chí đã bắc một nhịp cầu quan trọng đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại trên nhiều phương diện. Nhìn từ góc độ đồng đại, đặt Nam Phong tạp chí vào giai đoạn đầu thế kỷ XX, so với nhiều báo chí, tạp chí khác thời đó, Nam Phong là ấn phẩm đóng vai trò chủ đạo, trụ cột, là nơi “dẫn gió bốn phương vào đô thành văn học Việt Nam” (Kiều Thanh Quế), là tạp chí tham gia một cách có ý thức và đầy đủ nhất vào tiến trình hiện đại hóa văn học. Nhìn từ góc độ lịch đại, Nam Phong tạp chí đóng vai trò xây dựng nền móng ban đầu cho quá trình hiện đại hóa văn học cả về phương diện lý thuyết và thực hành sáng tác, dịch thuật và học thuật. Trong tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nam Phong đã góp phần hòa cùng với nhiều mạch nguồn khác của các báo chí đương thời đổ vào đại dương văn chương chung của dân tộc để làm nên một đồng bằng văn học rực rỡ ở mùa sau, giai đoạn văn học Việt Nam 1930 – 1945.
27 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.