Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn giảm nghèo bền vững tại các địa bàn miền núi luôn gắn liền với hiệu quả cung ứng và chuyển hóa nguồn vốn tài chính vi mô. Tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ – một huyện miền núi với dân số 126.485 người và 33.675 hộ gia đình, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 58% – công tác tín dụng chính sách đã đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Nhờ nỗ lực giải ngân các chương trình ưu đãi, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện đã giảm từ 13,09% năm 2017 xuống còn 10,04% vào năm 2019, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Hội đồng nhân dân huyện đề ra. Riêng khu vực nông thôn, tỷ lệ này thu hẹp từ 19,45% xuống mức 16,86% sau 3 năm triển khai quyết liệt.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở khả năng tiếp cận và hiệu quả sử dụng vốn của các hộ nghèo. Hơn 90% lao động trên địa bàn vẫn thuộc nhóm thuần nông, quy mô đất đai manh mún khi đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 20,81% tổng diện tích tự nhiên 62.110,40 ha, trong khi đất lâm nghiệp chiếm đến 69,44%. Nhiều hộ dân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các gói tín dụng quy mô lớn, thời hạn vay chưa tương thích với chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi dài ngày.

Nghiên cứu được triển khai nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng giải ngân và sử dụng vốn ưu đãi của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Thanh Sơn giai đoạn 2017 - 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cho giai đoạn 2020 - 2030. Kết quả nghiên cứu không chỉ mang lại giá trị thực tiễn cho công tác điều hành tín dụng tại Phú Thọ mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho các địa phương vùng trung du và miền núi phía Bắc có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết tài chính vi mô và lý thuyết thông tin bất cân xứng của Joseph Stiglitz nhằm lý giải cơ chế phân bổ tín dụng tại khu vực nông thôn. Trong điều kiện người nghèo thiếu tài sản bảo đảm, các tổ chức tín dụng thương mại thường từ chối cấp vốn do chi phí giao dịch cao và rủi ro đạo đức, tạo nên hiện tượng thắt chặt tín dụng. Để khắc phục khiếm khuyết thị trường này, mô hình tín dụng chính sách xã hội ra đời với cơ chế cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội và bảo đảm bằng tín chấp.

Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói của Ragnar Nurkse, xác định vốn là động lực tiên quyết phá vỡ nút thắt: thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, hạn chế đầu tư tư liệu sản xuất và duy trì năng suất ở mức tối thiểu. Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa dựa trên Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020, xác định hộ nghèo nông thôn có thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống hoặc dưới 1.000.000 đồng kết hợp thiếu hụt từ 3 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản, cùng Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Thanh Sơn, báo cáo tổng kết giai đoạn 2017 - 2019 của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện và các văn bản pháp quy liên quan. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc trong năm 2019 tại 3 xã đại diện cho 3 phân tầng tỷ lệ nghèo của huyện: xã Đông Cửu (tỷ lệ nghèo cao), xã Văn Miếu (tỷ lệ nghèo trung bình) và xã Địch Quả (tỷ lệ nghèo thấp).

Tổng số hộ nghèo tại 3 xã được chọn là 451 hộ. Áp dụng công thức tính cỡ mẫu Slovin với mức sai số cho phép e = 0,05 (5%), dung lượng mẫu nghiên cứu được xác định chính xác gồm 212 hộ nghèo:

$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2} = \frac{451}{1 + 451 \cdot 0,05^2} \approx 211,5 \rightarrow 212 \text{ hộ}$$

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê mô tả nhằm lượng hóa các chỉ tiêu về quy mô nguồn vốn, doanh số cho vay, dư nợ và doanh số thu nợ, cùng phương pháp so sánh chuỗi thời gian nhằm phát hiện xu hướng biến động tín dụng. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan mối quan hệ giữa chính sách tín dụng ưu đãi với sự thay đổi thu nhập, tạo việc làm và bảo toàn vốn vay của nông hộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô nguồn vốn tín dụng chính sách tại huyện Thanh Sơn ghi nhận sự tăng trưởng ổn định nhưng cơ cấu nguồn vốn còn phụ thuộc lớn vào trung ương. Đến ngày 31/12/2019, tổng nguồn vốn sử dụng tại Phòng giao dịch đạt 357.341 triệu đồng, tăng 5,8% so với năm 2018 với tốc độ tăng trưởng bình quân 107,23%/năm giai đoạn 2017 - 2019. Nguồn vốn cân đối từ trung ương đạt 318.820 triệu đồng, chiếm tỷ trọng áp đảo 89,22%. Điểm sáng nổi bật là nguồn vốn huy động tại địa phương đạt 38.521 triệu đồng (chiếm 10,78%), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân ấn tượng 142,72%/năm, trong đó nguồn vốn nhận ủy thác từ ngân sách Ủy ban nhân dân huyện đạt 900 triệu đồng.

Thứ hai, doanh số cho vay và số lượng khách hàng tiếp cận có xu hướng giảm nhẹ do quy trình sàng lọc đối tượng chặt chẽ hơn. Doanh số cho vay năm 2019 đạt 81.316 triệu đồng với 3.097 lượt khách hàng, giảm so với mức 84.865 triệu đồng và 3.548 lượt khách hàng năm 2017 (tốc độ phát triển bình quân đạt 97,89%). Trong cơ cấu giải ngân, dư nợ cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn đạt 18.452 triệu đồng, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đạt 11.433 triệu đồng, và cho vay hộ nghèo đạt 23.748 triệu đồng năm 2018.

Thứ ba, mức vốn vay thực tế của các hộ điều tra còn thấp so với nhu cầu đầu tư sản xuất thực tế. Đa số các hộ được vay với mức từ 15 triệu đồng đến trên 20 triệu đồng với lãi suất ưu đãi bình quân khoảng 6,6%/năm (0,55%/tháng). Thời hạn vay chủ yếu từ 1 đến 3 năm, phù hợp với chăn nuôi ngắn ngày nhưng quá ngắn đối với trồng rừng sản xuất hoặc nuôi đại gia súc.

Thứ tư, chất lượng tín dụng và tỷ lệ thu hồi nợ chuyển biến tích cực. Doanh số thu nợ năm 2018 đạt 61.491 triệu đồng, nâng tỷ lệ thu nợ đến hạn kỳ cuối từ 39% năm 2017 lên 46% năm 2018 và đạt 48% vào năm 2019. Trên 90% hộ vay khẳng định vốn tín dụng ưu đãi đã tạo việc làm tại chỗ, nâng cao giá trị tư liệu sản xuất và tăng thu nhập hộ gia đình.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tiếp cận vốn tại Thanh Sơn phản ánh rõ nét đặc trưng của vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Nguyên nhân khiến doanh số cho vay hộ nghèo có xu hướng giảm trong khi nguồn vốn tăng là do tỷ lệ giảm nghèo nhanh (giảm từ 13,09% xuống 10,04%), dẫn đến sự chuyển dịch đối tượng thụ hưởng sang chương trình hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo theo Quyết định 28/2015/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, có tới 90% chủ hộ nghèo có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống, tâm lý e ngại rủi ro và thiếu phương án sản xuất khả thi khiến họ không dám đề xuất mức vay kịch trần 50 triệu đồng theo Nghị định 78.

So sánh với các công trình nghiên cứu tại địa bàn khác, phát hiện tại Thanh Sơn tương đồng với nhận định của một số nghiên cứu tài chính vi mô khu vực trung du khi chỉ ra rằng việc cho vay qua tổ Tiết kiệm và Vay vốn giúp giảm thiểu chi phí quản lý nhưng còn hạn chế trong việc gắn kết tín dụng với chuyển giao kỹ thuật khuyến nông. Để người đọc và nhà hoạch định chính sách có cái nhìn trực quan, các chỉ tiêu này có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu nguồn vốn 2017 - 2019 và biểu đồ mạng nhện đánh giá mức độ hài lòng của 212 hộ dân đối với lãi suất, thời hạn và thủ tục vay vốn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho các hộ nghèo tại huyện Thanh Sơn giai đoạn 2020 - 2030, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, phân loại chính xác đối tượng và nâng mức cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện cần phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã rà soát nhu cầu thực tế, nâng định mức vay bình quân từ mức 15 - 20 triệu đồng hiện nay lên 50 - 100 triệu đồng/hộ đối với các mô hình trồng rừng gỗ lớn và phát triển trang trại bò thịt, bò sinh sản. Thời gian thực hiện giải pháp từ quý 1/2021 đến năm 2025.

Thứ hai, điều chỉnh thời hạn cho vay linh hoạt theo hướng dài hạn. Ngân hàng Chính sách Xã hội cần kiến nghị kéo dài thời hạn vay từ mức 3 - 5 năm hiện hành lên 7 - 10 năm đối với các dự án lâm nghiệp và cây ăn quả đặc sản, giúp hộ nghèo an tâm đầu tư chu kỳ dài mà không chịu áp lực đáo hạn trước khi cây trồng cho thu hoạch. Mục tiêu đạt 100% hộ trồng rừng được tiếp cận kỳ hạn vay trên 5 năm từ năm 2022.

Thứ ba, tích hợp tín dụng chính sách với các chương trình khuyến nông và bao tiêu sản phẩm. Ủy ban nhân dân huyện Thanh Sơn chỉ đạo Trạm Khuyến nông phối hợp chặt chẽ với 4 tổ chức hội nhận ủy thác (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên) tổ chức tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt cho 100% hộ nghèo trước khi giải ngân, đồng thời kết nối hợp tác xã bao tiêu nông sản giai đoạn 2021 - 2030.

Thứ tư, đa dạng hóa nguồn vốn huy động tại địa phương và tăng cường kiểm tra sau giải ngân. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Thanh Sơn hàng năm trích từ 15% đến 20% mức tăng thu ngân sách địa phương chuyển sang Ngân hàng Chính sách Xã hội để ủy thác cho vay. Ban đại diện Hội đồng quản trị ngân hàng cùng Ban quản lý Tổ Tiết kiệm và Vay vốn định kỳ kiểm tra sử dụng vốn 100% số hộ vay trong vòng 30 ngày sau giải ngân nhằm ngăn chặn tình trạng sử dụng sai mục đích.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, bao gồm Ủy ban nhân dân huyện Thanh Sơn và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ. Tài liệu cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách ủy thác, lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với chương trình xây dựng nông thôn mới.

Nhóm thứ hai là Ban lãnh đạo và cán bộ tín dụng thuộc hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội từ cấp tỉnh đến phòng giao dịch cấp huyện. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về chất lượng tín dụng, tỷ lệ thu hồi nợ (đạt 48% năm 2019) và các điểm nghẽn trong định mức, thời hạn vay để cải tiến quy trình nghiệp vụ phù hợp với địa bàn miền núi.

Nhóm thứ ba là cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và ban quản lý các Tổ Tiết kiệm và Vay vốn tại 22 xã và 1 thị trấn của huyện Thanh Sơn. Cán bộ cơ sở có thể áp dụng quy trình bình xét công khai, phương pháp giám sát sau vay và kỹ năng hỗ trợ hội viên lập phương án kinh doanh khả thi.

Nhóm thứ tư là các học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Tài chính - Ngân hàng và Phát triển nông thôn. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp chọn mẫu theo công thức Slovin, khung phân tích tài chính vi mô và hệ thống chỉ tiêu lượng hóa tác động của chính sách tín dụng đối với kinh tế nông hộ.

Câu hỏi thường gặp

Mức vốn vay ưu đãi bình quân của hộ nghèo huyện Thanh Sơn hiện nay là bao nhiêu và có đáp ứng đủ nhu cầu không? Mức vay phổ biến của 212 hộ nghèo khảo sát dao động từ 15 đến trên 20 triệu đồng/lượt vay. Hầu hết các hộ đều nhận định mức vốn này còn thấp, chỉ đủ chi trả con giống nhỏ hoặc phân bón ngắn ngày, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư mở rộng chuồng trại quy mô lớn hay trồng rừng sản xuất.

Kênh cho vay nào chiếm tỷ trọng lớn nhất đối với hộ nghèo trên địa bàn huyện? Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Thanh Sơn là kênh cung cấp tín dụng chủ lực thông qua phương thức ủy thác từng phần cho 4 tổ chức đoàn thể địa phương và mạng lưới các Tổ Tiết kiệm và Vay vốn tại tất cả các khu dân cư, áp dụng lãi suất ưu đãi cố định 0,55%/tháng.

Nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế trong việc sử dụng vốn vay của người nghèo là gì? Hạn chế xuất phát từ việc hơn 90% chủ hộ nghèo có trình độ học vấn thấp, thiếu kiến thức quản lý tài chính và kỹ thuật thâm canh. Ngoài ra, sự thiếu hụt đất sản xuất nông nghiệp (chỉ chiếm 20,81% diện tích) khiến hộ vay lúng túng trong lựa chọn phương án chuyển dịch sinh kế.

Cỡ mẫu 212 hộ trong nghiên cứu được lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học nào? Cỡ mẫu 212 hộ được tính toán chuẩn xác theo công thức Slovin từ tổng thể 451 hộ nghèo thuộc 3 xã đại diện Địch Quả, Đông Cửu và Văn Miếu với độ tin cậy 95% và sai số ngẫu nhiên 5%, đảm bảo tính đại diện cao cho toàn huyện Thanh Sơn.

Chính sách tín dụng ưu đãi đã đóng góp cụ thể ra sao vào tỷ lệ giảm nghèo của huyện? Nguồn vốn tín dụng đã trợ lực trực tiếp giúp tỷ lệ nghèo toàn huyện giảm từ 13,09% năm 2017 xuống 10,04% năm 2019, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động và hạn chế triệt để tình trạng người dân phải tiếp cận tín dụng đen với lãi suất cao.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng ưu đãi tại huyện Thanh Sơn giai đoạn 2017 - 2019, chứng minh tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đạt 107,23%/năm và tổng nguồn vốn chạm mốc 357.341 triệu đồng năm 2019.
  • Nghiên cứu khẳng định vai trò trụ cột của tín dụng chính sách trong việc kéo giảm tỷ lệ nghèo từ 13,09% xuống 10,04%, đồng thời nâng cao tỷ lệ thu nợ đến hạn kỳ cuối lên 48% tại phòng giao dịch huyện.
  • Đã chỉ ra những điểm nghẽn cốt lõi gồm: mức vay thực tế còn thấp (15 - 20 triệu đồng), thời hạn vay 1 - 3 năm chưa tương thích chu kỳ nông lâm nghiệp và trình độ ứng dụng kỹ thuật của hơn 90% chủ hộ còn hạn chế.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược cho giai đoạn 2020 - 2030, tập trung vào nâng hạn mức vay lên 50 - 100 triệu đồng, kéo dài thời hạn 7 - 10 năm, gắn kết khuyến nông và tăng nguồn vốn ủy thác ngân sách địa phương từ 15% đến 20%/năm.
  • Công trình đóng góp hệ thống dữ liệu sơ cấp chuẩn mực từ 212 hộ điều tra, là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà hoạch định chính sách, cán bộ ngân hàng và nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp trong công cuộc phát triển nông thôn bền vững.