Luận án tiến sĩ: Tiếp cận tín dụng của hộ gia đình ở khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng của hộ gia đình nông thôn khu vực đồng bằng sông Hồng.

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Tác giả

Nguyễn Thị Bích Hằng

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

175
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tiếp cận tín dụng nông thôn đồng bằng sông Hồng

Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với mật độ dân số cao. Kinh tế nông thôn nơi đây chuyển dịch nhanh chóng sang sản xuất hàng hóa và dịch vụ làng nghề. Nhu cầu vốn của các hộ gia đình nông thôn ngày càng gia tăng. Tiếp cận tín dụng đóng vai trò huyết mạch trong việc thúc đẩy đầu tư nông nghiệp và mở rộng quy mô kinh doanh. Thị trường tín dụng nông thôn bao gồm ba kênh chính: chính thức, bán chính thức và phi chính thức. Kênh chính thức gồm các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Chính sách Xã hội. Kênh bán chính thức gồm các quỹ tín dụng nhân dân và dự án vi mô. Kênh phi chính thức bao gồm vay mượn người thân, bạn bè hoặc tín dụng tư nhân. Việc tiếp cận nguồn vốn kịp thời giúp hộ gia đình nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và hiện đại hóa trang thiết bị. Nguồn vốn vay cũng hỗ trợ hộ nông dân trang trải các khoản chi tiêu đột xuất như viện phí, giáo dục hoặc thiên tai dịch bệnh. Khả năng tiếp cận tài chính góp phần quan trọng vào tiến trình xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

1.1. Khái niệm và vai trò của tín dụng nông thôn

Tín dụng nông thôn là quan hệ chuyển nhượng vốn tạm thời giữa tổ chức cho vay và các chủ thể kinh tế nông thôn. Người vay cam kết hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian xác định. Nguồn vốn này đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế địa phương. Tín dụng nông thôn kích thích tái sản xuất mở rộng và thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng. Nông dân có thể mua sắm giống cây trồng mới, phân bón và máy móc cơ giới hóa. Vốn vay còn hỗ trợ các hộ phát triển mô hình kinh tế trang trại và gia trại quy mô lớn. Nhờ đó, năng suất lao động nông nghiệp được cải thiện rõ rệt.

1.2. Cấu trúc thị trường tài chính khu vực đồng bằng

Thị trường tài chính nông thôn đồng bằng sông Hồng có tính phân đoạn rõ rệt. Phân khúc chính thức chiếm tỷ trọng lớn về dư nợ tín dụng. Agribank và Ngân hàng Chính sách Xã hội là hai định chế tài chính chủ lực tại địa bàn. Các ngân hàng thương mại cổ phần cũng bắt đầu mở rộng mạng lưới phòng giao dịch về các huyện thị. Khu vực bán chính thức phát triển mạnh với hệ thống quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Các tổ chức này cung cấp những món vay nhỏ lẻ, linh hoạt cho người dân địa phương. Khu vực phi chính thức vẫn tồn tại đan xen thông qua hình thức họ, hụi và vay mượn tư nhân. Mỗi phân khúc đáp ứng những phân tầng nhu cầu vay vốn khác nhau của hộ gia đình.

II. Phân tích tiếp cận tín dụng nông thôn đồng bằng sông Hồng

Mặc dù mạng lưới ngân hàng ngày càng mở rộng, nhiều hộ gia đình nông thôn đồng bằng sông Hồng vẫn gặp khó khăn khi vay vốn chính thức. Tình trạng hạn chế tín dụng xảy ra tương đối phổ biến đối với các hộ sản xuất quy mô nhỏ. Rào cản lớn nhất nằm ở yêu cầu tài sản bảo đảm. Đất nông nghiệp tại khu vực này thường manh mún, giá trị định giá thấp và thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiều bất cập. Các ngân hàng thương mại thường áp dụng điều kiện cho vay chặt chẽ để phòng ngừa rủi ro nợ xấu. Thủ tục hồ sơ vay vốn đòi hỏi nhiều giấy tờ chứng minh phương án kinh doanh khả thi. Trình độ học vấn và kiến thức tài chính của nhiều chủ hộ còn hạn chế. Điều này khiến họ e ngại tiếp xúc với quy trình ngân hàng phức tạp. Ngoài ra, sự bất đối xứng thông tin giữa bên cho vay và bên đi vay dẫn đến hiện tượng lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức. Nhiều hộ dân phải chuyển sang vay mượn từ thị trường phi chính thức với lãi suất cao hơn nhiều lần.

2.1. Nhân tố bên trong tác động đến tiếp cận vốn

Các đặc điểm nội tại của hộ gia đình chi phối mạnh mẽ khả năng vay vốn. Tuổi tác và trình độ học vấn của chủ hộ là hai yếu tố hàng đầu. Chủ hộ trẻ tuổi thường năng động nhưng thiếu kinh nghiệm sản xuất và uy tín tín dụng. Ngược lại, chủ hộ lớn tuổi có kinh nghiệm thực tế phong phú nhưng lại thận trọng trước các khoản nợ lớn. Trình độ học vấn cao giúp chủ hộ lập kế hoạch sản xuất rõ ràng và dễ tiếp cận dịch vụ ngân hàng hơn. Giới tính chủ hộ cũng tạo ra sự khác biệt. Phụ nữ thường dễ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ các chương trình tài chính vi mô. Ngoài ra, quy mô tài sản và diện tích đất canh tác quyết định trực tiếp hạn mức vay vốn của hộ gia đình.

2.2. Rào cản thể chế và thị trường tài chính

Khoảng cách địa lý và chi phí giao dịch là những trở ngại thực tế đối với hộ nông dân. Nhiều gia đình tại các xã xa trung tâm huyện phải tốn thời gian đi lại. Chi phí thẩm định tài sản và hoàn tất thủ tục pháp lý tốn kém so với quy mô khoản vay. Bên cạnh đó, lãi suất thương mại còn cao so với mức sinh lời nông nghiệp. Sự biến động của giá nông sản và dịch bệnh mùa màng khiến người dân lo ngại rủi ro trả nợ. Các tổ chức tín dụng cũng e dè giải ngân do thiếu bảo hiểm nông nghiệp. Cơ chế thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay chưa được triển khai đồng bộ.

III. Giải pháp tiếp cận tín dụng nông thôn đồng bằng sông Hồng

Để khơi thông dòng vốn tín dụng cho khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng, các bên liên quan cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực. Cơ quan quản lý nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý về giao dịch bảo đảm trong nông nghiệp. Việc đẩy nhanh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giúp các hộ nông dân có đủ điều kiện pháp lý để thế chấp vay vốn. Các ngân hàng thương mại cần đơn giản hóa quy trình thẩm định tín dụng. Việc số hóa quy trình cho vay thông qua ngân hàng số và ứng dụng di động giúp tiết kiệm chi phí giao dịch. Các tổ chức tín dụng nên phát triển các gói sản phẩm đặc thù phù hợp chu kỳ sản xuất nông nghiệp địa phương. Đồng thời, mô hình liên kết chuỗi giá trị giữa hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến cần được nhân rộng. Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm có thể đứng ra bảo lãnh tín chấp cho nông dân. Ngoài ra, việc thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng vi mô tại địa phương sẽ tạo lá chắn rủi ro cho các tổ chức cho vay.

3.1. Đổi mới chính sách tín dụng và sản phẩm ngân hàng

Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tín dụng ưu đãi cho lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Các ngân hàng thương mại cần đa dạng hóa danh mục sản phẩm cho vay tiêu dùng và phục vụ sản xuất. Thời hạn vay cần được thiết kế linh hoạt, phù hợp với chu kỳ sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi. Ngân hàng có thể tăng hạn mức cho vay không cần tài sản bảo đảm đối với các hộ có phương án sản xuất hiệu quả. Cơ chế giải ngân và thu nợ theo từng mùa vụ giúp giảm áp lực tài chính cho hộ nông dân. Việc ứng dụng công nghệ chấm điểm tín dụng tự động sẽ giúp rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn.

3.2. Nâng cao năng lực tài chính và liên kết sản xuất

Chính quyền địa phương và các hội đoàn thể cần phối hợp tổ chức các lớp tập huấn kiến thức quản lý tài chính cho chủ hộ. Người dân cần được hướng dẫn ghi chép sổ sách thu chi rõ ràng và quản lý dòng tiền sản xuất. Bên cạnh đó, các xã cần khuyến khích hộ nông dân tham gia vào các hợp tác xã kiểu mới. Việc liên kết sản xuất quy mô lớn giúp tăng khả năng thương lượng và bảo đảm đầu ra cho nông sản. Hợp tác xã đóng vai trò đại diện pháp lý hỗ trợ thành viên tiếp cận vốn vay ngân hàng với chi phí thấp hơn. Mô hình này giúp giảm thiểu rủi ro kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay.

IV. Kết luận về tiếp cận tín dụng nông thôn đồng bằng sông Hồng

Tiếp cận tín dụng đóng vai trò đòn bẩy quan trọng cho sự chuyển mình của khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng. Nguồn vốn vay kịp thời giúp các hộ gia đình phá vỡ vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và gia tăng tài sản tích lũy. Thực tiễn nghiên cứu cho thấy việc mở rộng khả năng tiếp cận vốn chính thức có tác động tích cực đến mức sống của hộ nông dân. Thu nhập bình quân của các hộ tiếp cận được vốn ngân hàng cao hơn rõ rệt so với các hộ bị giới hạn tín dụng. Khoản vốn vay được dùng để mua sắm công cụ sản xuất, cải tạo chuồng trại và đầu tư vào giống cây con chất lượng cao. Bên cạnh lợi ích kinh tế, tín dụng nông thôn còn mang lại nhiều giá trị xã hội tích cực. Các hộ gia đình có điều kiện đầu tư giáo dục cho con cái và chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Việc đẩy lùi tín dụng đen giúp ổn định an ninh trật tự tại các làng quê. Trong tương lai, sự phát triển của công nghệ tài chính sẽ mở ra nhiều cơ hội tiếp cận vốn bình đẳng cho mọi người dân.

4.1. Tác động của tiếp cận vốn tới phúc lợi hộ gia đình

Tiếp cận tín dụng tác động trực tiếp đến sự cải thiện phúc lợi của hộ gia đình nông thôn. Các nghiên cứu định lượng chứng minh rằng nguồn vốn vay kích thích chi tiêu hộ gia đình và gia tăng tài sản cố định. Nhờ có vốn, người dân mở rộng sản xuất hàng hóa và gia tăng lợi nhuận sau thu hoạch. Tỷ lệ hộ thoát nghèo tại đồng bằng sông Hồng tăng nhanh nhờ nguồn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội. Bên cạnh đó, tiếp cận tín dụng giúp gia đình nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc bất lợi. Hộ dân không phải bán tháo tài sản sản xuất khi gặp biến cố thiên tai hoặc đau ốm.

4.2. Định hướng ứng dụng công nghệ tài chính vi mô

Ứng dụng chuyển đổi số là xu thế tất yếu của thị trường tài chính nông thôn trong kỷ nguyên mới. Các mô hình công nghệ tài chính giúp xóa nhòa rào cản về khoảng cách địa lý giữa ngân hàng và khách hàng. Hộ gia đình nông thôn có thể tiếp cận các dịch vụ chuyển tiền, thanh toán và gửi tiết kiệm trực tuyến dễ dàng qua điện thoại. Các tổ chức tài chính vi mô đang tích cực triển khai dịch vụ ngân hàng đại lý tại các điểm bưu điện văn hóa xã. Phương thức này tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ vùng sâu vùng xa tiếp cận vốn vay nhỏ lẻ. Sự phổ cập của tài chính toàn diện sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho toàn vùng đồng bằng sông Hồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/11/2026
Tiếp cận tín dụng của hộ gia đình ở khu vực nông thôn đồng bằng sông hồng chuyên ngành tài chính ngân hàng mã số 9340201 luận án tiến sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của luận án sẽ hệ thống hoá lại các công trình nghiên cứu nói trên với sự phân chia thành hai phần chính là các nghiên cứu về các nhân tố bên trong và bên ngoài hộ gia đình ảnh hưởng tới tiếp cận tín dụng của hộ cũng như các mô hình được sử dụng trong các nghiên cứu. Các nghiên cứu về nhân tố bên trong hộ gia đình tác động tới tiếp cận tín dụng của hộ Các nghiên cứu về nhân tố bên trong hộ gia đình liên quan đến đặc điểm hộ gia đình ảnh hưởng tới tiếp cận tín dụng bao gồm cả tín dụng chính thức và phi chính thức. Đặc điểm của hộ gia đình ở đây được hiểu là các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ bao gồm nhóm các nhân tố về nhân khẩu học, nhóm các nhân tố về thu nhập, sản xuất, nhóm các nhân tố liên quan tới mạng lưới xã hội/vốn xã hội của hộ. Trong nghiên cứu của tác giả Hananu và cộng sự (2013), nhóm tác giả đã sử dụng mô hình logit để đo lường các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu tín dụng nông nghiệp tại phía bắc Ghana của các hộ gia đình.

Nghiên cứu chỉ ra việc hộ gia đình có quyết định vay vốn tín dụng chính thức hay không phụ thuộc vào các đặc điểm nhân khẩu học và 11 thu nhập của hộ như: Tuổi, giới tính, trình độ học vấn chủ hộ, quy mô hộ, thu nhập hàng năm, những mối quan hệ của hộ cũng như tiền vay từ những nguồn tín dụng đen. Sự tác động cùng chiều của nhân tố tuổi tác tới tiếp cận tín dụng chính thức (trong nghiên cứu này là tác động cùng chiều) cũng được đề cập đến trong các nghiên cứu tương tự ở Philippines (Gray, 2006) hay ở Ethiopia (Yehuala, 2008). Có sự khác nhau giữa việc chứng minh tác động của giới tính chủ hộ lên tiếp cận tín dụng chính thức. Trong nghiên cứu này của Hananu và cộng sự (2015), nữ giới thường có khả năng tiếp cận tín dụng chính thức cao hơn nam giới.

Kết quả ngược lại của biến giới tính này lại được tìm thấy trong nghiên cứu tại Praguay và Kenya (Fletschner, 2009; Kosgey, 2013). Yếu tố liên quan đến trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô hộ gia đình hay tổng số thành viên hộ, số lượng người không có thu nhập trong hộ cũng được tìm thấy trong nghiên cứu tại Nicaragua (Vaessen, 2001) và tại Trung Quốc (Li, Gan và Hu 2011). Trong nghiên cứu tại Trung Quốc với nghiên cứu điển hình tại tỉnh Hồ Bắc, nhóm tác giả Li và cộng sự (2011) đã chứng minh rằng ngoài các đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình có ảnh hưởng tới việc tiếp cận tín dụng của hộ, các yếu tố liên quan tới thu nhập và tài sản của hộ cũng như mạng lưới/quan hệ xã hội của các thành viên hộ cũng có ảnh hưởng đáng kể. Trong nghiên cứu này, quan hệ xã hội của hộ được thể hiện thông qua vị trí xã hội của các thành viên trong hộ, đó là các thành viên có là thành viên của các cơ quan nhà nước tại địa phương hay không.

Nhân tố quan hệ xã hội của hộ ở trong các nghiên cứu khác nhau sẽ được thể hiện dưới dạng các nhân tố khác nhau. Tương tự vậy trong một nghiên cứu về tiếp cận tín dụng chính thức của hộ dân đánh cá tại Indonesia, tác giả đã tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định của hộ trong việc tham gia vào thị trường vốn vay ngân hàng (Pranata, 2019) bao gồm nhân tố về nhân khẩu học: Loại hình nghề nghiệp của chủ hộ, số năm kinh nghiệm, số lượng thành viên phụ thuộc trong gia đình; và nhân tố liên quan đến thu nhập của hộ: Tỷ lệ thu nhập so với chi phí sản xuất của hộ. Những kết quả trong nghiên cứu của Saqib và cộng sự tại Pakistan cũng chỉ ra rằng những đặc điểm kinh tế xã hội của hộ có tác động đáng kể tới việc tiếp cận tín dụng nông nghiệp của hộ gia đình (Saqib và cộng sự, 2018). Trong một nghiên cứu khác tại Kivu thuộc cộng hoà Congo, tác giả đã sử dụng mô hình probit để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình nhỏ trồng cà chua (Mulume Bonnke và cộng sự, 2022).

Nghiên cứu này không tách biệt giữa tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức. Nghiên cứu chỉ ra rằng trong các nhân tố về đặc điểm kinh tế xã hội của hộ thì thu nhập của hộ, giới tính của chủ hộ và hộ có thành viên trong các hợp tác xã hoặc nhóm sản xuất có tác động tới khả năng tiếp cận tín dụng của hộ. 12 Bên cạnh những yếu tố liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học của hộ và thu nhập của hộ, thì những yếu tố liên quan đến quy mô sản xuất/kinh doanh và tài sản hoặc mức độ thịnh vượng của hộ cũng được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu. Những biến được sử dụng để đại diện cho quy mô sản xuất của hộ thường là diện tích đất sản xuất, tổng sản lượng đầu ra hoặc doanh thu từ sản xuất trong đó những biến đại diện cho mức độ thịnh vượng hoặc tài sản của hộ thường là: diện tích đất sở hữu/sử dụng, tiền gửi tiết kiệm và các loại tài sản khác.

Nhóm tác giả nghiên cứu về tiếp cận tín dụng chính thức của những hộ nông dân trồng rừng tại 7 tỉnh của Trung Quốc đã sử dụng mô hình double-hurdle để đo lường các nhân tố ảnh hưởng việc tiếp cận này, cụ thể là tiếp cận vốn vay được thế chấp bằng đất rừng (Dong và cộng sự, 2020). Kết quả chỉ ra rằng việc các hộ dân sẵn sàng tiếp cận nguồn vốn này phụ thuộc rất lớn vào diện tích rừng được giao, diện tích đất sản xuất và các yếu tố bên trong hộ gia đình như giới tính và tuổi chủ hộ, số lượng thành viên hộ và thu nhập của hộ. Trong nghiên cứu của tác giả Akudugu về tiếp cận tín dụng ngân hàng nông thôn của các hộ nông dân tại Ghana, hai khía cạnh liên quan đến tiếp cận tín dụng được xem xét bao gồm: Nhu cầu tín dụng của hộ dân và mức độ cung cấp tín dụng của ngân hàng (Akudugu, 2012). Mô hình logit được sử dụng để đo lường về nhu cầu tín dụng của hộ dân trong đó mô hình tobit được dùng để đo lường về mức độ cung cấp tín dụng.

Những nhân tố được chứng minh có ảnh hưởng tới nhu cầu tín dụng của hộ dân bao gồm các nhân tố liên quan đến đặc điểm kinh tế xã hội của hộ: Tuổi tác, học vấn, giới tính của chủ hộ, loại hình sản xuất nông nghiệp, tiết kiệm, diện tích nông nghiệp. Ngoài những yếu tố đặc điểm về nhân khẩu học và các yếu tố liên quan đến sản xuất của hộ, tác giả còn đưa vào những yếu tố liên quan đến vốn xã hội/mạng lưới xã hội của hộ (social capital/social network) bao gồm: Việc tham gia vào tổ chức chính trị của thành viên hộ hoặc tham gia vào các tổ chức hiệp hội khác. Tuy nhiên với mô hình đo lường về mức độ cấp tín dụng của ngân hàng, đo lường về tỷ lệ giữa nhu cầu của người vay và số tiền người cho vay phê duyệt thực tế, chỉ có biến tiết kiệm được chứng minh ảnh hưởng tới mức độ cấp tín dụng này. Nhắc tới yếu tố vốn xã hội/mạng lưới xã hội của hộ gia đình, mỗi tác giả/nhóm tác giả lại dùng những biến đặc trưng khác nhau.

Nếu như trong nghiên cứu của Akudugu (2012) vừa được đề cập ở đoạn trên, tác giả dùng biến “Việc tham gia vào tổ chức chính trị/xã hội” để biểu thị về đặc điểm mạng lưới xã hội của chủ hộ, thì trong một nghiên cứu khác tại Ghana, tác giả lại phân loại vốn xã hội này thành hai nhóm nhân tố bao gồm: Vốn xã hội hữu hình và vô hình (Mohammed, Egyir và Amegashie, 13 2013). Nhóm tác giả lại cho rằng vốn xã hội hữu hình bao gồm các nguồn lực hữu hình mà hộ có như: lao động, đất đai, máy móc, kỹ năng lao động, vốn trong khi vốn xã hội vô hình bao gồm vốn xã hội cấu trúc và vốn xã hội nhận thức. Trong đó vốn xã hội cấu trúc liên quan tới đặc điểm nhân khẩu học của hộ, mạng lưới và các quan hệ xã hội của hộ, còn vốn xã hội nhận thức liên quan đến nhận thức về tôn giáo, niềm tin cộng đồng, tín ngưỡng… Kết quả của mô hình logit trong nghiên cứu này chỉ ra rằng, những nhân tố về quan hệ xã hội của hộ, mức độ niềm tin cộng đồng, sự đồng nhất trong mối quan hệ cộng đồng tác động tới khả năng tiếp cận của hộ hơn là những đặc điểm về nhân khẩu học. Trong khi nhiều tác giả chủ yếu tập trung vào tiếp cận tín dụng chính thức thì có một số các tác giả khác lại tiến hành những nghiên cứu về cả tiếp cận tín dụng phi chính thức.

Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Okurut và cộng sự (2005) tại Uganda, các nhân tố liên quan tới đặc điểm của hộ có tác động tới nhu cầu tín dụng phi chính thức và hạn chế tín dụng của hộ bao gồm cả các nhân tố về nhân khẩu học, thu nhập và mức độ thịnh vượng của hộ thông qua chi tiêu và tài sản của hộ tính trên một đầu người. Để đo lường nhu cầu tín dụng của hộ, nhóm tác giả đã đi nghiên cứu hai khía cạnh bao gồm nhu cầu lựa chọn nguồn tín dụng và số tiền mà hộ muốn vay, trong đó hạn chế tín dụng của hộ lại được đánh giá thông qua số tiền mà họ được vay. Nghiên cứu sử dụng mô hình logit và heckman 2 giai đoạn theo thứ tự để đo lường việc lựa chọn nguồn tín dụng và số tiền hộ muốn vay cũng như số tiền hộ được vay (Okurut, Schoombee và Van der Berg, 2005). Trong một nghiên cứu khác, nhóm tác giả tại Ấn Độ đã sử dụng phương pháp moment thay vì phương pháp logit thông thường để đo lường các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu tín dụng phi chính thức của hộ dân (Mishra và Bhardwaj 2022).

Trong một nghiên cứu khác tại Ghana, nhóm tác giả cũng đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận tín dụng phi chính thức của hộ dân, bao gồm: Tuổi, học vấn, diện tích sản xuất nông nghiệp, việc hộ gia đình trồng nhiều hơn một giống cây trồng, việc hộ gia đình có thiết bị kinh doanh phi nông nghiệp, và việc hộ gia đình là thành viên của các tổ hội nhóm tín dụng hoặc tổ hội nhóm nông nghiệp (Sekyi, Domanban và Honya 2019).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Thị Bích Hằng (2023), Tiếp cận tín dụng của hộ gia đình ở khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
APA 7
Nguyễn, T. B. H. (2023). Tiếp cận tín dụng của hộ gia đình ở khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/tiep-can-tin-dung-ho-gia-dinh-nong-thon-dong-bang-song-hong/9443646437
IEEE
T. B. H. Nguyễn, "Tiếp cận tín dụng của hộ gia đình ở khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng," Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2023. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/tiep-can-tin-dung-ho-gia-dinh-nong-thon-dong-bang-song-hong/9443646437

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác

Luận án tiến sĩ nghiên cứu toàn diện về thực trạng và rào cản trong việc tiếp cận nguồn vốn vay của các hộ gia đình tại khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng. Công trình phân tích sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng như quy mô kinh tế hộ, tài sản thế chấp, chính sách hỗ trợ tín dụng và mạng lưới ngân hàng nông thôn. Đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên và cán bộ hoạch định chính sách, tài liệu này mang lại nguồn dữ liệu thực nghiệm giá trị cùng hệ thống giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện. Để có góc nhìn đa chiều hơn về hành vi tài chính và các kênh vốn, bạn có thể tham khảo thêm nghiên cứu về <strong>tiếp cận tín dụng vi mô</strong> trong cả hai khu vực chính thức và phi chính thức.