phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chình của luận văn gồm có ba chương: Chƣơng 1: Sự phát triển của lí thuyết phê bình sinh thái Chƣơng 2: Mối quan hệ phân mảnh giữa con ngƣời và thiên nhiên Chƣơng 3: Mối quan hệ mới giữa con ngƣời và thiên nhiên 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.SỰ PHÁT TRIỂN CỦALÍ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI Lì thuyết phê bính sinh thái (ecocriticism) được chình thức ra đời vào những năm 1990, từ đó, đãliên tục thay đổi vàphát triển mạnh mẽ. Với tư cách một phương pháp nghiên cứu trẻ, phê bính sinh thái đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả, khen ngợi cũng như chỉ trìch. Những cụm từ “khủng hoảng môi trường”, “nguy cơ sinh thái” ngày càng được sử dụng phổ biến, báo hiệu một giai đoạn đầy sôi động và thách thức của phê bính sinh thái trong những năm đầu thế kỉ XXI. Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thống nhất về quan điểm có bốn làn sóng phê bính sinh thái.Khởi đầu,các nhà nghiên cứu quan niệm thiên nhiên là hiện thực khách quan, mang vẻ đẹp hoàn mĩ, để hướng tới mục đìch bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi sự huỷ hoại của con người.
Tiếp nối làn sóng đầu tiên, năm 2005, Lawrence Buell nhận định: “Không thể xác định rõ ràng các xu hướng trong phê bính văn học về môi trường. Tuy nhiên, có thể đánh dấu một ranh giới “làn sóng thứ nhất” của phê bính sinh thái cải tiến sang “làn sóng thứ hai” mới mẻ và ngày càng rõ rệt” [39, 17]. Chịu sự chi phối bởi chủ nghĩa nữ quyền sinh thái và phong trào công bằng môi trường, làn sóng thứ hai không còn thấy con người và tự nhiên trái ngược nhau mà cho rằng ý thức về tự nhiên chịu sự chi phối bởi các ý thức xã hội như chủng tộc, giai cấp, giới và tình dục; mở rộng mối quan tâm đến các môi trường ngoại ô hay đô thị; mở rộng đối tượng nghiên cứu, không chỉ những tác phẩm viết về tự nhiên như trước.Làn sóng phê bính sinh thái thứ ba tiếp tục phát triển dựa trên quan điểm của làn sóng thứ hai, bổ sung thêm việc “cộng nhận sự ảnh hưởng của tình dân tộc và quốc gia (đối với ý thức sinh thái), hướng tới tình toàn cầu; làn sóng thứ ba này khám phá tất cả các khìa cạnh của trải nghiệm con người từ quan điểm môi trường” [29, 6-7]. Thêm vào đó, làn sóng thứ ba cũng cho rằng phê bính sinh thái là một lĩnh vực nghiên cứu đa ngành và có thể kết hợp với rất nhiềucác lì thuyết khác như “sinh học tiến hoá, sinh thái 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảnh quan, thuyết rủi ro, hiện tượng học, đạo đức môi trường, thuyết nữ quyền, nhân chủng học, tâm lì học, thuyết hậu thuộc địa…” [29, 11].Về làn sóng phê bính sinh thái thứ tư, Scot Slovic nhận định: “Đối với tôi, khi gần cuối năm 2012, tính vật chất (material) đã mở ra “làn sóng thứ tư của phê bính sinh thái”.
Tôi quan sát được nhiều nghiên cứu và chương trính dạy học nhấn mạnh tình vật chất cơ bản (tình vật lì, tình hệ quả) của các sự vật, địa điểm, quá trính, lực lượng và các trải nghiệm môi trường” [91, 443]. Làn sóng thứ tư hướng tới tình ứng dụng thực tế của văn học làm thay đổi các hành vi ứng xử và lối sống của con người đối với tự nhiên, như ăn uống, vận động hay trang phục. Có thể nói, phê bính sinh thái là một lĩnh vựcrất năng động và đầy hứa hẹn. Không tồn tại mộtranh giới rõ rệt giữa các làn sóng và tuỳ từng trường hợp cụ thể, mỗinhà nghiên cứulại tiếp cận tác phẩm từ góc độ khác nhau.
Đối với Người yêu dấu, chúng tôi cho rằng ý thức tự nhiêntrong tiểu thuyết chịu ảnh đậm nét của tư tưởng về giới và chủng tộc, mang dấu ấn của phê bính sinh thái làn sóng thứ hai. Ví vậy, ở chương này, chúng tôi sẽ kiến giải quá trính hính thành và đặc trưng khuynh hướng phê bính sinh thái làn sóng thứ hai, đểchứng minh đó là một lối tư duy phê bính sinh thái bao quát hơn, vượt ra ngoài các tác phẩm tự nhiên, phi hư cấuvà có khả năng kết hợp với nhiều phương pháp nghiên cứu khác. Sự khởi đầu Từ cuối thế kỷ XX, con người ngày càng nhận thức rõ hơn những hậu quảnặng nề của sự tàn phá môi trường. Trong khi đó, chủ nghĩa hậu hiện đại lại chối bỏ hiện thực như là một sự tiếp tay cho việc hủy diệt tự nhiên.
Và sự phổ biến mạnh mẽ của chủ nghĩa hậu hiện đại đã báo động các nhà phê bính sinh thái thời kỳ đầu. Các nhà phê bính sinh thái lập luận rằng: “Chủ nghĩa hậu hiện đại đã dùng ngôn ngữ để kiến tạo lại thế giới, đồng thời phá hủy thế giới trong quá trính đó”[90, 494]. Bởi ví, chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu cấu trúc và nhiều lì thuyết khác coi kiến tạo lại tự nhiên là một nguyên lì cơ bản. Các nhà phê bính sinh thái lo sợ “chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại sẽ tuyên bố về cái 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chết của tự nhiên và tôn vinh văn hóa”[83, 578].
Nhiều nhà phê bính văn học hậu hiện đại chỉ quan tâm đến thiên nhiên như là sự ẩn dụ hơn là cõi tự nhiên thực tế, tạo ra khoảng cách ngày càng lớn giữa con người và môi trường, cả trong tiểu thuyết và đời sống. Các nhà phê bính sinh thái cho rằng“văn học hậu hiện đại đã tách con người khỏi thế giới”[90, 498]và khoảng cách đó có thể làm gia tăng sự hủy hoại môi trường. Scott Russell Sanders đặc biệt chỉ trìch văn học hậu hiện đại, cáo buộc nó chỉ tập trung vào đô thị: “Sự thiếu hiểu biết về đất đai và phong cảnh được thể hiện trong các tiểu thuyết thời thượng ngày nay”[86, 193]. Khi sáng tác văn học theo lối như vậy, các nhà phê bính sinh thái cho rằng tác phẩm đã thất bại trong việc gây dựng cảm quan đạo đức sinh thái và góp phần vào cuộc khủng hoảng môi trường.
Theo Sanders: “Tuy văn học đã phản ánh chình xác cách nghĩ của thời đại chúng ta nhưng các sáng tác chỉ tập trung vào con người là sai lầm sâu sắc. Cho dù chúng ta sống ở thành thị như thế nào, cho dù chúng ta có thể lãng quên đối với thiên nhiên như thế nào, chúng ta cũng là động vật” [86, 194]. Cuối cùng, các nhà phê bính sinh thái tin rằng chối bỏ thiên nhiên sẽ không chỉ làm tiếp diễn sự suy thoái mà còn giảm sự kết nối của con người với thiên nhiên. Để chống lại chủ nghĩa hậu hiện đại, các nhà phê bính sinh thái đã chuyển sang chủ nghĩa hiện thực mà Glen A.
Love và Lawrence Buell là hai trong số những người đề xướng mạnh mẽ nhất. Cuốn sách có sức ảnh hưởng lớn của Buell, Trí tưởng tượng môi trường: Thoreau, Viết tự nhiên và sự hình thành văn hoá Mĩ, kêu gọi các nhà phê bính văn học trở lại với chủ nghĩa hiện thực khi đánh giá các sáng tác về tự nhiên. Thất vọng với số lượng ìt ỏi các tác phẩm viết về tự nhiên, Buell đặt ra vấn đề: “Phải chăng văn học luôn tách con người ra khỏi thế giới tự nhiên mà không bao giờ kết nối lại?” [38, 11]. Buell phản đối sự coi thường môi trường khi bị thiết lập như một cách ẩn dụ mà “không phải là một tả thực hoặc như một đối tượng riêng biệt, có ý nghĩa”.
Từ góc nhín đó, Buell cho rằng các nhà nghiên cứu văn học dễ dàng trở thành những người chống lại môi trường (anti-environmentalists) [38, 85]. Thay vào đó, ông đề xuất cần chú ý 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều hơn đến môi trường phi hư cấu và những nỗ lực để mô tả thiên nhiên một cách chân thực. Buell đã chỉ ra chủ nghĩa hiện thực là cách để đưa môi trường lên vị trì hàng đầu trong thang đánh giá văn học, làm nhân vật trung tâm của tác phẩm và giúp kết nối độc giả với môi trường tự nhiên. Các định hướng cơ bản về phê bính sinh thái khác đã được trính bày trong văn bản có tình nền tảng là Người đọc tác phẩm theo lí thuyết phê bình sinh thái: Các dấu mốc trong sinh thái văn học.
Trong đó, Love, Sanders và những tác giả khác đã phê phán việc cắt đứt các kết nối giữa con người và môi trường. Love kêu gọi đề cao ý thức sinh thái hơn ý thức bản ngã và đặc biệt chỉ ra văn học Âu Mĩ cần đưa lên hàng đầu của tư tưởng này. SueEllen Campbell cho rằng: “Phê bính sinh thái định hướng người đọc không áp đặt cách nhín nhận về ý nghĩa của tự nhiên đối với con người mà quan tâm tới cách thế giới tự nhiên tồn tại độc lập khỏi con người và diễn ngôn của nhân loại” [43, 133]. Trên cơ sở đó, phê bính sinh thái đã tách khỏi truyền thống phê bính và tuyên bố lĩnh vực này không đóng khung ở một lý thuyết văn học mà là một “thái độ” với môi trường.
Tôn vinh những tác phẩm cố gắng miêu tả chình xác về tự nhiên và thể hiện sự coi trọng tự nhiên, phê bính sinh thái đã nâng cao loại “sáng tác về tự nhiên” và kết nối công chúng với thiên nhiên “bởi ví thế giới tự nhiên là chân thực, đẹp đẽ và đáng yêu” [67, 237]. Các tác phẩm văn học sinh thái ban đầu thường ưa thìch các câu chuyện phi hư cấu và gắn với trải nghiệm cá nhân. Glotfelty nhấn mạnh phê bính văn học hướng tới sự hoà hợp thống nhất giữa con người với thế giới tự nhiên là một nỗ lực của con người để chống lại sự hủy hoại môi trường với “một chân tại văn học và một chân khác trên mặt đất” [51, xix]. Lì thuyết phê bính sinh thái khởi đầu bởi sự đòi hỏi của hiện thực cuộc sống đối với văn học và hính thành từ những cuộc đối thoại sôi nổi trong giới học thuật.
Mong muốn làm cho môi trường trở thành trung tâm hơn trong vănhọc, kết nối người đọc với thiên nhiên và hạ thấp tầm quan trọng của các lì thuyết nghiêm ngặt, nhằm chống lại sự hủy hoại môi trường. Nhiều học giả đã nhanh chóng góp sức và chỉ trong vài năm,Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường (the Association 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com for the Study of Literature and the Environment - ASLE) đã được thành lập với tạp chì học thuật riêng làNghiên cứu Liên ngành về Văn học và Môi trường (Interdisciplinary Studies in Literature andEnvironment - ISLE).