phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong bốn chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn Chƣơng 3: Thiết kế một số chủ đề tích hợp tri thức toán học với vật lí trong dạy học môn Toán ở trƣờng THPT Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Lí luận về dạy học tích hợp 1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp Tích hợp là một vấn đề đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu và nhiều nhà giáo dục trong nƣớc ta hiện nay. Tuy nhiên, khái niệm này đã vốn có từ lâu và nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm và sử dụng rộng rãi.
+ Theo từ điển tiếng Pháp thì nghĩa của từ Tích hợp là: “Gộp lại, sát nhập vào thành một tổng thể”. + Theo từ điển tiếng Việt [36]: “ Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp”. + Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ [35]: “ Tích hợp hệ thống là phối hợp các thiết bị và công cụ khác nhau để cùng làm một việc với nhau trong một hệ thống – Một chƣơng trình nhằm giải quyết những nhiệm vụ chung nào đó”. + Theo Nguyễn Phú Lộc [24]: “Tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ năng học đƣợc ở môn học này, phần này của môn học đƣợc sử dụng nhƣ những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng một môn học.
Thí dụ, toán học giải tích đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ đắc lực trong nghiên cứu sinh học, hóa học, vật lí. Tin học đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ để mô hình hóa các quá trình toán học v.v…” + Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, theo Dƣơng Tiến Sỹ [30]: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lí luận và thực tiễn đƣợc đề cập trong các môn học đó”. Trong lĩnh vực giáo dục hiện nay, DHTH là một trong những xu thế DH hiện đại ở nhiều nƣớc trên thế giới. Có nhiều cách định nghĩa về DHTH nhƣ sau: + Theo Xaviers Roegirs [37]: Khoa sƣ phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trƣớc những điều cần thiết cho HS nhằm phục vụ cho quá 6 trình học tập trong tƣơng lai, hoặc hoà nhập HS vào cuộc sống lao động.
Khoa sƣ phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa. + Từ góc độ lí luận dạy học, theo Nguyễn Văn Khải [21]: “DHTH tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của HS. Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, HS sẽ phát huy đƣợc năng lực tự lực, phát triển tƣ duy sáng tạo. DHTH các khoa học sẽ làm giảm trùng lặp nội dung DH các môn học, việc xây dựng chƣơng trình các môn học theo hƣớng này có ý nghĩa quan trọng làm giảm tình trạng quá tải của nội dung học tập, đồng thời hiệu quả DH đƣợc nâng lên.
Nhất là trong bối cảnh hiện nay, do đòi hỏi của xã hội, nhiều tri thức cần thiết mới đều muốn đƣợc đƣa vào nhà trƣờng”. Mục tiêu của dạy học tích hợp Theo Xavier Rogiers [37] “Nếu nhà trƣờng chỉ quan tâm dạy cho HS các khái niệm một cách rời rạc, thì nguy cơ sẽ hình thành ở HS các suy luận theo kiểu khép kín, sẽ hình thành những con ngƣời “mù chức năng”, nghĩa là những ngƣời đã lĩnh hội kiến thức nhƣng không có khả năng sử dụng các kiến thức đó hàng ngày”. DHTH nhấn mạnh các mục tiêu cơ bản sau [3]: - Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, hòa nhập thế giới học đƣờng với thế giới cuộc sống; - Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nhĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo; - Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống thực tế, cụ thể, có ích cho cuộc sống sau này; - Xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học.
Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có nhƣ vậy HS mới thực sự làm chủ đƣợc kiến thức và mới vận dụng đƣợc kiến thức đã học khi gặp một tình huống bất ngờ, chƣa từng gặp. Các đặc trưng cơ bản của dạy học tích hợp Mục đích của DHTH là để hình thành và phát triển năng lực HS, giúp HS vận dụng để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn của cuộc sống. DHTH có những đặc điểm sau đây [3]: 7 - Thiết lập các mối quan hệ theo một logic nhất định những kiến thức, kỹ năng khác nhau để thực hiện một hoạt động phức hợp. - Lựa chọn những thông tin, kiến thức, kỹ năng cần cho HS thực hiện đƣợc các hoạt động thiết thực trong các tình huống học tập, đời sống hàng ngày, làm cho HS hòa nhập vào thế giới cuộc sống.
- Làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt. - GV không đặt ƣu tiên truyền đạt kiến thức, thông tin đơn lẻ, mà phải hình thành ở HS năng lực tìm kiếm, quản lí, tổ chức sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong tình huống có ý nghĩa. - Khắc phục đƣợc thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng rời rạc làm cho con ngƣời trở nên "mù chữ chức năng", nghĩa là có thể đƣợc nhồi nhét nhiều thông tin, nhƣng không dùng đƣợc. Nhƣ vậy, DHTH là giảm tải kiến thức không thực sự có giá trị sử dụng, để có điều kiện dạy các kiến thức có ích.
Để lựa chọn nội dung kiến thức đƣa vào chƣơng trình các môn học trƣớc hết phải trả lời kiến thức nào cần và có thể làm cho HS biết huy động vào các tình huống có ý nghĩa. Các nguyên tắc lựa chọn nội dung tích hợp Việc lựa chọn nội dung tích hợp ở phổ thông cần theo các nguyên tắc sau [8]: - Nguyên tắc 1: Đảm bảo mục tiêu giáo dục hình thành và phát triển năng lực cần thiết cho ngƣời học. Nội dung DHTH đƣợc chọn phải đảm bảo yêu cầu đầu tiên là đáp ứng đƣợc mục tiêu của DHTH, hƣớng tới việc phát triển năng lực cho ngƣời học. Có hai con đƣờng logic để lựa chọn nội dung trong DHTH: + Con đƣờng thứ nhất ứng với cách tiếp cận nội dung.
Chƣơng trình SGK hiện hành của chúng ta có nội dung đã đƣợc thiết kế sẵn không theo định hƣớng phát triển năng lực. Vì vậy, cần biến đổi các nội dung đó để soạn thảo theo mục tiêu phát triển các năng lực riêng lẻ đã đạt đƣợc ở một giai đoạn nhất định nhƣ kết thúc một năm học, cả cấp học. Sơ đồ logic con đƣờng này nhƣ sau: Nội dung → các năng lực riêng lẻ ứng với mục tiêu cụ thể → năng lực ứng với mục tiêu kết thúc một giai đoạn. + Con đƣờng thứ hai ứng với tiếp cận phát triển năng lực.
Con đƣờng này ngƣợc chiều với con đƣờng thứ nhất. Sơ đồ logic của con đƣờng này nhƣ sau: Mục tiêu tích hợp → các năng lực riêng lẻ ứng với mục tiêu cụ thể → nội dung. Con đƣờng thứ nhất chỉ là một giải pháp tình thế khi chúng ta chuyển từ chƣơng trình tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực. Con đƣờng thứ hai cho phép lựa chọn những 8 kiến thức có ý nghĩa thiết thực trong đời sống, tránh đƣợc sự quá tải chƣơng trình hoặc sự rời xa thực tế.
- Nguyên tắc 2: Đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, mang tính thiết thực và có ý nghĩa với ngƣời học. Để đáp ứng yêu cầu này, nội dung chủ đề tích hợp cần tinh giản kiến thức hàn lâm, lựa chọn các tri thức đơn giản, gắn bó thiết thực với đời sống. Tuy nhiên, các nội dung tri thức cũng cần cung cấp kiến thức nền tảng cho ngƣời học thích ứng với xã hội đầy biến động và phải là cơ sở GDPT để ngƣời học có thể học tập suốt đời. - Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính khoa học và tiếp cận những thành tựu của khoa học kĩ thuật nhƣng vừa sức với HS để đảm bảo yêu cầu này, nội dung của các chủ đề tích hợp cần tiếp cận với các thành tựu khoa học kĩ thuật nhƣng ở mức độ vừa sức, tạo điều kiện cho HS trải nghiệm và khám phá kiến thức.
- Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính giáo dục và giáo dục vì sự phát triển bền vững. Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa và yêu cầu phát triển bền vững đƣợc đặt ra cấp thiết với các quốc gia. Phát triển bền vững tránh cho các quốc gia những rủi ro trong quá trình phát triển. Vì vậy, ngoài việc giúp cho HS nhận thức đƣợc thế giới, nội dung của các chủ đề tích hợp cần góp phần hình thành, bồi dƣỡng cho HS thái độ sống hòa hợp với thế giới xung quanh; bồi dƣỡng phẩm chất công dân.
- Nguyên tắc 5: Tăng tính thực hành, thực tiễn, ứng dụng và quan tâm tới các vấn đề xã hội mang tính địa phƣơng. Mọi khoa học đều là kết quả nhận thức của con ngƣời trong quá trình hoạt động thực tiễn. Vì vậy, nội dung các bài học (chủ đề) tích hợp cần tăng cƣờng tính thực hành, thực tiễn và tính ứng dụng nhằm rèn cho HS kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tế cuộc sống. Ngoài ra, nội dung DHTH cũng cần quan tâm tới các vấn đề mang tính xã hội của địa phƣơng để giúp cho các em có hiểu biết nhất định về nơi mình sống, từ đó sẵn sàng tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội địa phƣơng ngay sau khi tốt nghiệp.
- Nguyên tắc 6: Việc xây dựng các bài học/chủ đề tích hợp dựa trên chƣơng trình hiện hành. Các bài học/chủ đề tích hợp đƣợc xác định dựa vào những nội dung giao nhau của các môn học hiện hành và những vấn đề giáo dục mang tính quốc tế, quốc gia và có ý nghĩa đối với cuộc sống của HS.