Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA 16 ĐỀ TÀI. Những vấn đề lý luận về dạy học tích hợp. Khái niệm về tích hợp. Các quan điểm tích hợp.
Các hình thức tích hợp. Ý nghĩa và mục tiêu của dạy học tích hợp. Tích hợp trong môn Ngữ văn. Tích hợp trong phần Tiếng Việt.
Thực trạng dạy học Tiếng Việt lớp 10 THPT theo hướng tích hợp. Khảo sát thực trạng dạy học Tiếng Việt nói chung tại một số trường THPT hiện nay. Khảo sát thực trạng dạy học phân môn Tiếng Việt theo hướng tích hợp tại một số trường THPT hiện nay. 28 Chương 2: VẬN DỤNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VÀ VĂN TRONG DẠY HỌC BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT (NGỮ VĂN 10 - TẬP 2).
Một số yêu cầu cơ bản khi dạy học phần Tiếng Việt theo hướng tích hợp. Dạy học Tiếng Việt theo hướng tích hợp phải đảm bảo những yêu cầu chung của dạy học Tiếng Việt. Dạy học Tiếng Việt theo hướng tích hợp phải biết lựa chọn nội dung tích hợp hợp lý, tự nhiên, tránh gượng ép. Dạy học Tiếng Việt theo hướng tích hợp phải đảm bảo giảm tải kiến thức, rút ngắn được thời gian học tập cho HS.
Tích hợp trong phân môn Tiếng Việt phải đảm bảo đúng quy trình tích hợp chung. Một số biện pháp tích hợp trong dạy học Tiếng Việt. Tích hợp trong nội dung dạy học. Tích hợp trong kiểm tra đánh giá.
Tổ chức tích hợp kiến thức Ngữ và Văn trong dạy bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Ngữ văn 10 - tập 2). Đặc điểm nội dung bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Định hướng triển khai dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” theo hướng tích hợp kiến thức Ngữ - Văn. 48 59 Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.
Mục đích thực nghiệm. Đối tượng thực nghiệm. Phương pháp thực nghiệm. Nội dung thực nghiệm.
Giáo án thực nghiệm. Thuyết minh về giáo án thực nghiệm. Đánh giá kết quả thực nghiệm. Về hứng thú của HS.
Về kết quả bài kiểm tra. 78 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 86 4 z DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 1.
Quan điểm của GV Ngữ văn về mức độ cần thiết phải chú trọng dạy học phân môn Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay. Các cách thức tích hợp GV thường vận dụng vào dạy học phân môn Tiếng Việt THPT. Quan điểm của GV Ngữ văn về mức độ thường xuyên vận dụng tích hợp vào dạy chương trình Tiếng Việt tại một số trường THPT. Thống kê kết quả bài kiểm tra của HS các lớp đối chứng và thực nghiệm.
78 5 z DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Trang Biểu đồ 1. Biểu đồ thể hiện quan điểm của GV về mức độ cần thiết phải chú trọng dạy học phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ Văn THPT hiện nay. Biểu đồ thể hiện một số cách thức tích hợp mà GV THPT hiện nay vận dụng vào dạy phân môn Tiếng Việt. Biểu đồ thể hiện quan điểm của GV Ngữ văn về mức độ thường xuyên vận dụng tích hợp vào dạy chương trình Tiếng Việt THPT………………………………………………………….
Biên soạn câu hỏi kiểm tra loại bài Tiếng Việt theo định hướng tích hợp. Lý do chọn đề tài 1. Vai trò quan trọng của ngôn ngữ và của phân môn Tiếng Việt Cùng với lao động, ngôn ngữ cũng góp phần hình thành và phát triển xã hội loài người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến và thuận lợi nhất, được coi là “sáng tạo kỳ diệu của loài người”.
Ngôn ngữ còn là công cụ tổ chức quá trình tư duy, giúp tư duy phát triển. Mặt khác, ngôn ngữ đóng vai trò là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành cộng đồng dân tộc, duy trì và phát triển truyền thống văn hóa của dân tộc. Với người Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ bản địa, góp phần duy trì sự thống nhất quốc gia, dân tộc. Bên cạnh chức năng giao tiếp, chức năng tư duy, ngôn ngữ còn có chức năng thẩm mĩ, là phương tiện để tạo nên cái đẹp – hình tượng nghệ thuật.
Đề cao chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ, môn Tiếng Việt trong nhà trường được chú trọng để hướng nhiều vào nội dung dạy ngôn ngữ nghệ thuật, học Tiếng Việt trong các tác phẩm nghệ thuật, học Tiếng Việt để hiểu nghệ thuật văn chương. Do đó, việc dạy cho HS biết sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác là mục tiêu vô cùng quan trọng. Cũng vì thế, Tiếng Việt đã trở thành phân môn có vị trí đặc biệt; không chỉ cung cấp những kiến thức, kĩ năng cơ bản để phát triển khả năng giao tiếp, giúp các em hiểu được những giá trị “chân – thiện – mĩ” trong văn học, trong cuộc sống, mà còn trang bị cho các em công cụ thiết yếu để học tốt các môn khoa học khác. Đây chính là lý do vì sao Tiếng Việt là môn học (phân môn) được dạy xuyên suốt từ bậc Tiểu học đến THPT.
Tích hợp là một phương pháp dạy học được quan tâm nhiều trong dạy học môn Ngữ văn hiện nay Thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học kĩ thuật, của sự bùng nổ tri thức, thế kỉ của những con người năng động, sáng tạo và tự chủ. Để hội nhập với xu thế phát triển chung của thế giới, xã hội Việt Nam cần có một sự thay đổi căn bản, toàn diện về rất nhiều lĩnh vực trong đời sống, trong đó chủ yếu là những 7 z thay đổi trong giáo dục. Bởi phát triển giáo dục chính là chiến lược phát triển đất nước: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Đổi mới giáo dục chính là cách nhanh nhất rút ngắn khoảng cách vươn tới mục tiêu nêu trên.
Để có một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, cần thay đổi căn bản từ nội dung chương trình đến phương pháp giảng dạy. Vì một khi nội dung chương trình giáo dục có sự thay đổi sẽ kéo theo nhu cầu cấp thiết đổi mới phương pháp dạy học. Từ năm học 2006 – 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai đại trà chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 mới trên toàn quốc. Đó là việc thay đổi tên gọi môn Văn - Tiếng Việt thành môn Ngữ văn, thay đổi trong cách xác định mục tiêu môn học, trong quan điểm lựa chọn nội dung, kết cấu chương trình, trong việc vận dụng các phương pháp và phương tiện dạy học để đạt được mục tiêu giáo dục.
Trước đây, ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn tách biệt nhau, không gắn bó với nhau trong một chỉnh thể, nhưng với việc biên soạn chương trình mới theo tinh thần tích hợp thì ba phân môn được hợp lại thành một môn chung, mỗi phân môn là một phần của môn Ngữ văn. Những kiến thức kĩ năng của ba phân môn Đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn được triển khai đồng thời cho mỗi bài học, theo mối quan hệ đồng quy, nhằm thực hiện mục tiêu cao nhất của chương trình là giúp cho HS từng bước nâng cao và hoàn thiện năng lực đọc - hiểu văn bản và viết các loại văn bản theo phương thức biểu đạt một cách tích cực, chủ động. Cơ sở của việc tích hợp này là lấy Tiếng Việt làm nền tảng của Đọc văn và Làm văn, Làm văn là thực hành của Tiếng Việt, còn Đọc văn là tinh hoa của Tiếng Việt do các bậc thầy văn chương thực hiện. Bởi môn Ngữ văn là một môn học tích hợp giữa ngôn ngữ với văn tự (chữ viết), ngôn ngữ với văn bản, ngôn ngữ với văn hóa, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết.
Về bản chất, đối tượng của Đọc văn là các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ của dân tộc và nhân loại từ cổ chí kim, còn đối tượng của Tiếng Việt là hệ thống ngôn ngữ, quy luật hành chức. Nên học Đọc văn, HS thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ vì thực chất công việc phân tích 8 z các hình tượng văn học là công việc đi từ nghệ thuật ngôn từ mà khám phá ra vẻ đẹp, ý nghĩa các hình tượng văn học. Từ đó, yêu văn chương, các em càng yêu Tiếng Việt. Và thông qua đó, giúp người học rèn luyện, trau dồi được các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống.
Như vậy, chương trình và SGK Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như đặt ra đòi hỏi GV phải dạy ba phần của môn Ngữ văn như một thể thống nhất. Trong đó mỗi phần vừa giữ bản sắc riêng, vừa hoà nhập với nhau cùng hình thành các tri thức, kĩ năng Ngữ văn ở HS. Để làm được điều đó một cách có hiệu quả thì việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học là một yêu cầu tất yếu. Việc dạy học theo hướng tích hợp trong nhà trường phổ thông hiện nay còn nhiều bất cập Đã nhiều năm, qua thực tế dạy học vẫn tồn tại một khuyết điểm khó khắc phục, đó là tình trạng GV dạy bài nào soạn bài đó và chỉ biết bài đó.
Kế hoạch soạn bài theo toàn chương, theo học kì đã được đặt ra từ nhiều thập kỉ trước nhưng cho đến nay nhược điểm đó ở nhiều GV hầu như vẫn chưa được khắc phục. Vì vậy, hầu hết mỗi bài học đều bị tách rời khỏi hệ thống, dạy một bài Tiếng Việt nhưng không chú ý đến sự liên thông với các kiến thức Tiếng Việt cùng hệ thống và những bộ phận liên quan như Đọc văn, Làm văn. Hậu quả của lối giảng dạy này là không những không giúp HS nắm vững kiến thức cụ thể đang học và kiến thức hệ thống không được sâu chuỗi, liên kết với nhau mà còn làm hạn chế khả năng tư duy tổng hợp kiến thức của HS, khiến HS có tâm lý chán học. Lối dạy học manh mún đó còn phương hại đến việc rèn luyện tư duy khái quát, tư duy hệ thống - vốn là những năng lực quan trọng cần thiết cho HS THPT.
Thực tế quan sát được từ các nhà trường phổ thông, việc đổi mới phương pháp dạy học đối với tất cả các môn học, đặc biệt trong môn Ngữ Văn còn rất nhiều hạn chế. Chương trình Ngữ văn 10 đã đưa ra định hướng về đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo tinh thần tích hợp, nhưng những 9 z nghiên cứu cụ thể về dạy học theo quan điểm tích hợp, một đặc thù của bộ môn lại chưa được triển khai một cách thoả đáng.