Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh Trung học phổ thông thông qua dạy học phần dẫn xuất của hiđrocacbon - Hóa học lớp 11. Thực nghiệm sư phạm.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề của dạy học tích hợp 1. Khái niệm về tích hợp Theo Từ điển Tiếng Việt “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [27].
Theo Từ điển Giáo dục học “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc một vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”[10]. Theo Dương Tiến Sỹ (2002) “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó”[22]. Trong Tiếng Anh, tích hợp “integration” là một từ gốc Latinh (integer) có nghĩa là “toàn bộ, toàn thể”, là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy. Như thế, trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của một hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất.
Đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết, dạy học tích hợp là một xu hướng được nhiều nước trên thế giới thực hiện. Khái niệm dạy học tích hợp Trong chương trình phổ thông, các môn học có mối liên quan chặt chẽ với nhau, có thể nói các bộ môn ngày càng thâm nhập vào nhau. Mục tiêu của giáo dục hiện nay là đào tạo ra những con người có tri thức, biết vận dụng tri thức vào thực 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiễn để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Trước những đòi hỏi đó, tích hợp ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu xã hội.
Theo Xaviers Roegiers: “Tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những yêu cầu cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động. Tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [28]. Theo Nguyễn Văn Khải: “Dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học đó là cơ hội phát triển các năng lực của học sinh. Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo” [12].
Theo UNESCO, dạy học tích hợp là “một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc qua sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” Các định nghĩa trên nêu rõ mục đích của dạy học tích hợp là hình thành và phát triển năng lực của người học. Vai trò của tích hợp trong dạy học Dạy học tích hợp giúp HS trở thành người tích cực, người công dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thực tiễn cuộc sống. Dạy học tích hợp cho phép rút ngắn được thời gian dạy học, đồng thời tăng cường được khối lượng và chất lượng thông tin của chương trình và nội dung SGK phổ thông. Hiện nay còn tình trạng tách biệt giữa các môn trong nhà trường phổ thông, nhất là tình trạng biệt lập giữa chương trình và SGK ở các cấp học.
Việc giảng dạy tích hợp rèn cho HS ý thức và kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để xử lý các vấn đề đặt ra trong học tập. Đối với một số nội dung kiến thức, người GV chỉ nên giới thiệu ở một chừng mực nhất định cần thiết cho sự hiểu biết tối thiểu về khía cạnh đang đề cập. Nhờ đó có thể khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiểu biết của người học. Cần đánh giá cao những HS biết sử dụng kiến thức phân môn này để tham gia giải quyết những vấn đề của phân môn khác.
Đó là những thói quen, cơ sở để sau này các em có điều kiện tiếp thu và vận dụng dễ dàng hơn phương pháp nghiên cứu liên ngành ở các bậc cao hơn, cũng như khi vào đời, có khả năng giải quyết dễ dàng hơn các vấn đề thực tiễn, vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là tình huống tích hợp. Dạy học tích hợp giúp HS sử dụng một cách tối đa các kiến thức đã học ở các môn vào giải quyết vấn đề, đồng thời kéo kiến thức trong nhà trường gần lại với kiến thức xã hội. Dạy học tích hợp giúp HS học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối tri thức toàn diện, hài hoà và hợp lý trong giải quyết các tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại. Ngoài ra, dạy học tích hợp còn đảm bảo cho HS khả năng huy động hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách có hiệu quả một tình huống xuất hiện, và nếu có thể, để đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa gặp.
HS có thể được học tập nhiều hơn nếu được cung cấp đầy đủ các tư liệu học tập được biên soạn trong khuôn khổ một chương trình tích hợp các khoa học một cách hơp lý. HS có thể làm được nhiều hơn và tốt hơn nếu phương pháp dạy học của thầy thực sự được chuyển hoá thành phương pháp dạy cách học cho trò, theo cách tiếp cận dạy học giải quyết vấn đề mà HS là trung tâm, tập dượt cho HS cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn. Hơn nữa, dạy học tích hợp giúp HS rèn luyện tư duy khái quát, năng lực liên hệ và mở rộng kiến thức, giúp HS dễ hiểu bài, dễ khắc sâu kiến thức, giảm cường độ học tập cho HS. Tích hợp trong dạy học tạo điều kiện cho HS phát triển tốt các kỹ năng.
Khi vận dụng tích hợp vào dạy học, các quá trình dạy học không tách rời cuộc sống hàng ngày cũng như không tách rời các môn học riêng rẽ mà có sự liên hệ các môn học với nhau. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dạy học tích hợp giúp HS phát triển phối hợp nhiều kỹ năng, trong đó có những kỹ năng mà các môn học đơn lẻ khó có thể hình thành được. Trong bài trao đổi với phóng viên báo Giáo dục & Thời đại [27/01/2015]. GS Đinh Quang Báo - Ủy viên hội đồng Quốc Gia và phát triển nhân lực – đã khẳng định vai trò của dạy học tích hợp và cho đây là phương pháp tạo ra năng lực.
Mục tiêu của dạy học tích hợp Dạy học tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống. Giúp học sinh phân biệt được cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cở sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo. Trong thực tế nhà trường, có nhiều điều chúng ta dạy cho học sinh nhưng không thực sự có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản không được dành đủ thời gian.
Chẳng hạn ở tiểu học, học sinh được biết nhiều quy tắc ngữ pháp nhưng không biết đọc diễn cảm một bài văn, học sinh biết có bao nhiêu centimet trong bao nhiêu kilomet nhưng lại không chỉ ra được 1mét áng chừng dài bằng mấy gang tay. Dạy học tích hợp giúp HS sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể. Thay vì tham nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến thức lý thuyết, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho HS vận dụng các kiến thức, kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này để làm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ có năng lực sống tự lập. Dạy học tích hợp đã xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học.
Trong quá trình học tập, học sinh có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mới thực làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp. Các quan điểm tích hợp trong dạy học Theo D’Hainaut (1977)[28] có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học. Quan điểm “đơn môn”: có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống của mỗi môn học riêng biệt.
Khi đó, các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ. Quan điểm “đa môn”: thực chất là những tình huống, những “đề tài” được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau, nghĩa là theo những môn học khác nhau. Ví dụ, người học có thể nghiên cứu vấn đề nhà ở theo quan điểm kiến trúc, theo quan điểm mỹ học, theo quan điểm lịch sử, theo quan điểm nhân chủng học v.v …theo quan điểm này, các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài. Như vậy, các môn học không thực sự được tích hợp.
Quan điểm “liên môn”: trong dạy học những tình huống chỉ có thể được tiếp cận hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học.