phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tích hợp giáo dục môi trƣờng trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp Chƣơng 2. Quy trình tích hợp giáo dục môi trƣờng trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 ở trƣờng Tiểu học Nguyễn Khuyến – Ngô Quyền – Hải Phòng. Thực nghiệm sƣ phạm 9 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 1. Các khái niệm cơ bản 1. Môi trường Khái niệm môi trƣờng đã đƣợc các nhà nghiên cứu bàn luận theo nhiều nghĩa khác nhau, nó phụ thuộc vào quá trình nhận thức và cách nhìn nhận vấn đề. - Môi trƣờng là một tập hợp các yếu tố xung quanh hay là các điều kiện bên ngoài có tác động qua lại (trực tiếp, gián tiếp) tới sự tồn tại và phát triển của sinh vật.
- Theo điều 3 Luật Bảo vệ Môi trƣờng (2014) “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [12, tr1]. Môi trƣờng sống của con ngƣời theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con ngƣời nhƣ tài nguyên thiên nhiên, đất, nƣớc và không khí, ánh sáng, công nghệ, kinh tế, chính trị, đạo đức, văn hoá, lịch sử và mĩ học. Môi trƣờng sống của con ngƣời đƣợc phân thành: môi trƣờng sống tự nhiên và môi trƣờng sống xã hội. * Môi trường tự nhiên: Bao gồm các nhân tố thiên nhiên nhƣ vật lý, hóa học, sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con ngƣời, nhƣng cũng ít nhiều chịu tác động của con ngƣời.
Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất nƣớc… Môi trƣờng tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con ngƣời các loại tài nguyên cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con ngƣời thêm phong phú. * Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa ngƣời với ngƣời. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ƣớc định… ở các cấp khác nhau nhƣ: Liên hợp quốc, Hiệp hội các nƣớc, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ 10 tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trƣờng xã hội định hƣớng hoạt động của con ngƣời theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con ngƣời khác với thế giới sinh vật khác. Ngoài ra ngƣời ta còn phân biệt khái niệm: Môi trường nhân tạo: Bao gồm tất cả các nhân tố vật lí, sinh vật, xã hội do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên… và chịu sự chi phối của con người.
* Môi trường nhà trường: Bao gồm không gian trƣờng, cơ sở vật chất trong trƣờng nhƣ phòng học, phòng thí nghiệm, thầy giáo, cô giáo, HS, nội quy của trƣờng, các tổ chức xã hội nhƣ Đoàn, Đội. Theo các nhà sinh học, coi môi trƣờng bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, cả các yếu tố vô sinh, hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, sự phát triển và sinh sản của sinh vật. Theo ngân hàng thế giới, môi trƣờng là tổng hợp tất cả các nhân tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế và xã hội có tác động tới một cá thể, một quần thể hay một cộng đồng. những nhân tố này bao gồm cả biện pháp quản lý việc sử dụng và duy trì các nguồn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài ngƣời hiện nay và trong tƣơng lai.
Trong Từ điển Tiếng Việt, môi trường là toàn thể hoàn cảnh tự nhiên tạo thành những điều kiện sống bên ngoài của một sinh vật [15, tr361]. Nhƣ vậy, môi trƣờng là tập hợp tất cả các điều kiện bên ngoài có ảnh hƣởng tới một vật thể, một sự kiện hay một cơ thể sống. Bất cứ một vật thể, một sự kiện hay một cơ thể sống nào cũng tồn tại và biến đổi trong một môi trƣờng nhất định. Tích hợp Trong các tài liệu nghiên cứu về khoa học tích hợp, ngƣời ta phân chia chúng thành hai xu hƣớng, đó là xu hƣớng tích hợp các khoa học trong quá trình phát triển và xu hƣớng tích hợp các môn học trong quá trình dạy học.
Chúng khác nhau cả về nội dung và nguyên nhân. Xu hƣớng tích hợp khoa học khi 11 nghiên cứu đối tƣợng đều tuân theo luật nhận thức từ tổng quát – phân tích – tổng hợp, về thực chất đó là quá trình nhận thức về tổng thể - bộ phận theo từng tầng bậc xoáy ốc. Ngày nay, khoa học tiếp tục phân hóa sâu song song với tích hợp liên môn. Đặc biệt do hình thái khoa học ở thế kỷ XX đã chuyển từ phân tích – cấu trúc tổng hợp – hệ thống làm xuất hiện các gian ngành, liên ngành với tốc độ phát triển ngày càng nhanh, các thông tin khoa học cập nhập ngày càng nhiều.
Trong khi đó dạy học phản ánh sự phát triển của khoa học và vì thời gian học tập trong trƣờng không thể kéo dài nên xuất hiện xu hƣớng dạy từ các môn học riêng rẽ sang dạy tích hợp các môn học. Làm đƣợc nhƣ vậy thì chúng ta sẽ nâng cao đƣợc hiệu quả giáo dục và học sinh sẽ tiếp nhận đƣợc nhiều nguồn thông tin mà không bị tụt hậu với thời đại. Tích hợp được hiểu là sự dồn lại, gộp chung lại, là sự kết hợp, lắp ghép một cách có hệ thống nội dung kiến thức của một lĩnh vực giáo dục nào đó vào kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau. Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm quen thuộc, các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn đƣợc đề cập trong môn học đó.
Giáo dục môi trường Giáo dục môi trường là một quá trình (thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy) hình thành và phát triển ở người học sự hiểu biết, kĩ năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề về môi trường, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái. Mục đích của giáo dục môi trƣờng nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trƣờng theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tƣơng lai. Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lƣợng và tránh những thảm hoạ môi trƣờng, xoá nghèo đói, tận dụng các cơ hội và đƣa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên. Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt đƣợc những kỹ năng, có những động lực và cam kết hành động, dù với tƣ cách cá nhân hay tập 12 thể, để giải quyết những vấn đề môi trƣờng hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh.
Giáo dục môi trƣờng nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trƣờng cùng các vấn đề của nó (nhận thức); những khái niệm cơ bản về môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng (kiến thức); những tình cảm, mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trƣờng (thái độ, hành vi); những kĩ năng giải quyết cũng nhƣ cách thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia (kĩ năng); tinh thần trách nhiệm trƣớc những vấn đề về môi trƣờng và có những hành động thích hợp giải quyết vấn đề (tham gia tích cực). Tích hợp giáo dục môi trường Đầu thập kỉ 80, trong quá trình triển khai cải cách giáo dục và thay thế sách giáo khoa, các cơ quan chỉ đạo và nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bƣớc đầu nêu ra các định hƣớng về giáo dục môi trƣờng trong các trƣờng học. Từ đó đến nay, nội dung giáo dục môi trƣờng đƣợc tích hợp vào chƣơng trình giảng dạy các môn học có nhiều khả năng tích hợp giáo dục môi trƣờng nhƣ: Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Đạo đức, Sinh học, Địa lý. Chƣơng trình giảng dạy ở tiểu học, trung học đã bƣớc đầu đƣợc biên soạn và thử nghiệm ở một số địa phƣơng.
Tuy nhiên, trong nội dung của chƣơng trình giáo dục môi trƣờng vẫn còn nhấn mạnh quá nhiều các khía cạnh nhận thức, các thành phần nhƣ giá trị, thái độ còn ít đƣợc quan tâm, đôi lúc còn ít đƣợc đề cập trong chƣơng trình giáo dục hiện hành. Giáo dục môi trƣờng đã đƣợc tích hợp vào toàn bộ hệ thống giáo dục ở tất cả các bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông ở nhiều nƣớc trên thế giới. Ở Châu Á, giáo dục môi trƣờng đã đƣợc tích hợp ở tất cả các bậc học. Tích hợp giáo dục môi trường được hiểu là sự kết hợp các khía cạnh của môi trường vào trong quá trình giáo dục chính quy, pha trộn nội dung có liên quan đến các vấn đề môi trường khác nhau vào các môn học tự nhiên hoặc các môn khoa học xã hội.
Tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức giáo dục môi trƣờng và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ 13 với nhau, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn đƣợc đề cập trong bài học. Khi tiến hành tích hợp kiến thức giáo dục môi trƣờng vào trong bài học có ba mức độ chính: Mức độ tích hợp: Ở mức độ này một phần nội dung của môn học chính là nội dung giáo dục môi trƣờng đƣợc đƣa vào chƣơng trình và sách giáo khoa. Nội dung giáo dục môi trƣờng có thể là một chủ đề hay một số bài trọn vẹn. Mức độ lồng ghép: Ở mức độ này một số kiến thức môn học cũng chính là kiến thức giáo dục môi trƣờng đƣợc đƣa vào chƣơng trình và sách giáo khoa theo các mức độ khác nhau (có thể chiếm một mục, một đoạn hay một vài câu trong bài học, hoặc có thể là các bài đọc thêm sau bài học chính nhằm bổ sung kiến thức về giáo dục môi trƣờng.