CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về rượu truyền thống Đồ uống có cồn như bia, rượu là những sản phẩm lên men phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và văn hóa của con người. Ở Việt Nam, rượu gạo đã có từ rất lâu đời, cho đến nay nó vẫn là thức uống phổ biến và chiếm 80% trong tổng số các loại đồ uống có cồn. Tùy thuộc vào từng địa phương mà thành phần và quy trình sản xuất rượu có sự khác nhau, do đó rượu được sản xuất có tên địa phương khác nhau.
như rượu Làng Vân (tỉnh Bắc Giang), rượu Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình), rượu Kiên Lao (tỉnh Nam Định), rượu Bàu Đá (tỉnh Bình Định), rượu Gò Đen (tỉnh Long An). Tuy nhiên, phương thức sản xuất chung đều dựa vào quá trình biến đổi hóa sinh của hệ vi sinh vật trong men rượu [8]. Men rượu Việc chuẩn bị và sử dụng men rượu như là nguồn cung cấp vi sinh vật trong sản xuất rượu gạo là rất quan trọng. Thông thường, giống khởi động cho lên men rượu gồm 3 thành phần vi sinh cơ bản là: nấm mốc, nấm men và vi khuẩn.
Trong đó, nhóm nấm mốc chủ yếu sinh enzyme amylase để đường hóa tinh bột thành các phân tử đường khử như glucose, maltose, hay n-dextrin dài hơn. Sau đó, lượng đường này được nấm men chuyển hóa thành ethanol vì vậy chất lượng của các sản phẩm cuối cùng phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động của các vi sinh vật này. Một trong những cách tiếp cận để cải thiện sản xuất rượu là thiết lập các điều kiện tối ưu cho quá trình đường hóa và lên men đồng thời với nuôi cấy hỗn hợp vi sinh vật sinh enzyme thủy phân tinh bột và lên men ethanol [8]. Như được liệt kê trong Bảng 1.1, các loài mốc chính trong các loại giống khởi động truyền thống ở Châu Á là Rhizopus spp.
và Mucor spp. Nhóm nấm men phổ biến là Saccharomyces cerevisiae, Hansenula spp., và Candida spp., còn loài giả nấm men phổ biến là Saccharomycopsis fibuligera. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các loại giống khởi động để lên men đồ uống có cồn ở Châu Á Sản phẩm Đất nước Mốc và men Bakhar Ấn Độ Mucor spp., Saccharomyces cerevisiae Mucor spp., Bubud Philippines Saccharomycopsis fibuligera, Saccharomyces cerevisiae, Torulopsis spp.
Aspergillus oryzae, Rhizopus spp., Saccharomyces Chu Trung Quốc cerevisiae Look- Mucor spp., Chlamydomucor oryzae, Candida spp., Thái Lan pang Saccharomyces cerevisiae Men Mucor spp., Việt Nam rượu Saccharomyces cerevisiae, Saccharomycopsis fibuligera Rhizopus spp., Saccharomyces cerevisiae, Murcha Nepal Saccharomycopsis fibuligera. Aspergillus oryzae, Rhizopus spp.niger, Penicillium Nurock Hàn Quốc spp., Hansenula anomala, Pichia anomala, Saccharom yces cerevisiae Mucor spp., Saccharom yces cerevisiae, Ragi Indonesia Saccharomycopsis fibuligera , Hansenula spp. Tapai Malaysia Rhizopus spp., Saccharomycopsis fibuligera Các thành phần để làm viên men thường là bột gạo, bột sắn hoặc kết hợp cả bột gạo và bột sắn- Các loại bột đó có thể được trộn với một số loại thảo mộc, những thành phần bổ sung này được cho là có vai trò trong việc ức chế sự sinh trưởng của các vi sinh vật tạp nhiễm. Tỷ lệ giữa bột nghiền với các loại thảo mộc thường là 14:1 theo khối lượng.
Sau đó, nước được thêm vào để tạo độ ẩm tương đối cho khối bột là 55-60%, và trộn đều với bột men từ những mẻ trước. Những viên men được nặn hình tròn với đường kính 4 cm, dày 1 cm. Các khay bánh men được ủ trong điều kiện nhiệt 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ phòng 28-32 ºC trong 2-5 ngày và được hong khô bởi gió hoặc ánh sáng mặt trời [8]. Bột gạo Bột men Bột thuốc bắc Nước Khối bột với 50-60% hàm ẩm Nặn viên men tròn ủ 2-5 ngày Hong khô Hình 1.
Một quy trình truyền thống làm men rượu ở Việt Nam 1. Các giai đoạn lên men rượu Có 2 giai đoạn chính trong lên men sản xuất rượu đó là: Giai đoạn đường hóa và giai đoạn lên men rượu 1. Giai đoạn 1- Giai đoạn đường hóa Gạo sau khi được nấu chín sẽ được tãi ra khay, vải sạch để nguội đến nhiệt độ 30-35°C thì rắc bột bánh men vào với tỉ lệ bột bánh men so với gạo là 1-5% theo khối lượng. Trộn đều bột bánh men và ủ khoảng 3 ngày để vi sinh vật sinh amylase thủy phân tinh bột thành đường trong điều kiện hiếu khí [8].
Đặc điểm của enzyme amylase Amylase có thể được tổng hợp từ một số loại nấm mốc, nấm men, vi khuẩn và xạ khuẩn; Tuy nhiên, nấm mốc được biết đến nhiều nhất vì tính phổ biến và ổn định 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của enzyme này. Có 3 loại amylase là α-amylases, β-amylases và γ-amylase, (α- glucosidase) mỗi loại cắt các vị trí khác nhau. minh họa vị trí thủy phân liên kết của 3 loại enzyme này. Quá trình thủy phân tinh bột bởi các enzyme amylase a.
α- amylase α-amylases có khả năng cắt liên kết α,1-4 glycoside ở phía trong của mạch amylose và amylopectin. Enzyme này được tìm thấy ở rất nhiều loài vi sinh vật, nó cắt ở các vị trí ngẫu nhiên dọc chuỗi tinh bột, cuối cùng tạo ra glucose, maltose, n- dextrin. α-amylases có xu hướng hoạt động nhanh hơn β-amylase bởi nó có thể thủy phân nhiều vị trí của cơ chất. Loại enzyme này được tìm thấy nấm Ascomycetes và Basidiomycetes, vi khuẩn Bacillus, nước bọt và tuyến tụy ở người [22].
Quá trình thủy phân tinh bột bởi α-amylases là quá trình đa giai đoạn: Giai đoạn 1 (giai đoạn dextrin hóa): Chỉ một số phân tử cơ chất bị thủy phân tạo thành một lượng lớn dextrin phân tử thấp (α-dextrin), độ nhớt của hồ tinh bột giảm nhanh (các amylose và amylopectin đều bị dịch hóa nhanh) [2]. Giai đoạn 2 (giai đoạn đường hóa): Các dextrin phân tử thấp ở giai đoạn 1 bị thủy phân tiếp tạo ra các tetra-trimaltose không cho màu với iodine. Các chất này bị thủy phân rất chậm bởi α-amylase cho tới disaccharide và monosaccharide. Dưới tác dụng của α-amylase, amylose bị phân giải khá nhanh thành oligosaccharide gồm 6-7 gốc glucose [2].
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giai đoạn 3: Các polyglucose này bị phân cắt tiếp tục tạo nên các mạch polyglucose ngắn dần và bị phân giải chậm đến maltotetrose, maltotriose và maltose và glucose. Tóm lại, dưới tác dụng của α-amylase, tinh bột có thể chuyển thành maltotetrose, maltose, glucose và dextrin phân tử thấp. Tuy nhiên, thông thường α- amylase chỉ thủy phân tinh bột chủ yếu thành dextrin phân tử thấp không cho màu với Iodine. Khả năng dextrin hóa cao của α-amylase là tính chất đặc trưng của nó.
Vì vậy, người ta thường gọi loại amylase này là amylase dextrin hóa hay amylase dịch hóa. β-amylase β-amylase hay exoamylase có khả năng cắt liên kết α,1-4 glycoside và α,1-6 glycoside. Chúng thủy phân glucose ở phía ngoài của mạch amylose và amylopectin [23]. β-amylase là một enzyme ngoại bào.
Tiến trình phân giải bắt đầu từ đầu không khử của các nhánh ngoài cùng cơ chất. β-amylase phân cắt các liên kết α-1,4glucoside nhưng khi gặp liên kết α-1,4 glucoside đứng kế cận liên kết α-1,6 glucoside thì nó sẽ ngừng tác dụng. Phần polysaccharide còn lại là dextrin phân tử lớn có chứa rất nhiều liên kết α-1,6 glucoside và được gọi là β-dextrin [2]. γ-amylase γ-amylase cắt liên kết α(1-6) và α(1-4) glycoside ở đầu không khử của amylose và amylopectin, tạo ra glucose.
Đa số Enzyme này có hoạt lực cao nhất ở vùng PH 3,5-5,5 và nhiệt độ 50ºC. Nó bền với acid hơn α-amylase nhưng kém bền hơn trong rượu, aceton [22]. Đặc điểm của vi nấm trong giai đoạn đường hóa Quá trình đường hóa tinh bột sẽ cho ra maltose, glucose để sản xuất ethanol có nguồn gốc từ các quá trình lên men. Thủy phân tinh bột bằng phương pháp enzyme có nhiều ưu điểm so với phương pháp hóa học, như hoạt động trong điều kiện pH và nhiệt độ vừa phải, ngăn ngừa ăn mòn thiết bị và các bước trung hòa tiếp theo.
Enzyme có tính đặc hiệu cơ chất, loại bỏ sự hình thành các sản phẩm phụ không mong muốn như thường được xuất hiện trong quá trình thủy phân axit [26]. Giai đoạn 2- Giai đoạn lên men rượu. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhóm nấm men thường phân lập được từ bánh men là Saccharomyces cerevisiae, Pichia anomala, Candida tropicalis trong đó Saccharomyces cerevisiae được cho là đóng vai trò chính, phát triển trong điều kiện ít oxy, lên men chuyển hóa đường thành ethanol. Ethanol là sản phẩm chính ở giai đoạn này, khi nồng độ cao trong dịch lên men sẽ ức chế màng sinh chất, thay đổi tính bán thấm tế bào nấm men và các vi sinh vật khác.
Thực tế sản xuất cho thấy giai đoạn ủ cho lên men phụ thuộc vào thời tiết, vào những ngày nóng, giai đoạn ủ thường ngắn. Ví dụ như ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long ở miền Nam Việt Nam, nhiệt độ trung bình 30-33ºC, thời gian ủ cho giai đoạn 1 là 2-3 ngày, giai đoạn 2 là 3-4 ngày [8]. + Lên men rắn là phương pháp thường được sử dụng ở các vùng núi cao. Nguyên liệu cho sản xuất rượu ở những vùng này thường là ngô và sắn.
Ngô và sắn sau quá trình đường hóa trở nên ngọt và mềm, sau đó được thêm nước. Quá trình lên men diễn ra trong 5-7 ngày và sau đó đem đi chưng cất [3]. + Lên men lỏng thường được sử dụng ở các làng nghề dưới đồng bằng. Gạo, sau quá trình đường hóa trở nên mền ngọt và được bổ sung nước theo tỉ lệ 1:1.
Lên men tiếp trong 3-5 ngày. Vào mùa hè nhiệt độ cao thì thời gian lên men thường ngắn hơn mùa đông [3]. Sản phẩm sau lên men rượu gạo. Đối với rượu không chưng cất, dịch lên men sau khi kết thúc giai đoạn 2 sẽ được lọc lấy dịch trong chứa glucose, ethanol, và các chất hòa tan khác, với những loại rượu không chưng cất độ cồn chỉ khoảng 7-10% (v/v), và rượu sẽ không bảo quản được lâu.
Để giải quyết vấn đề này, người sản xuất sẽ tăng hàm lượng cồn bằng cách hoặc bổ sung đường vào sau giai đoạn 1 hoặc bổ sung cồn vào sau giai đoạn 2, như vậy vừa đáp ứng được nhu cầu khách hang vừa kéo dài tuổi thọ cho sản phẩm [3]. Đối với rượu chưng cất, sử dụng thiết bị chưng cất có nguyên lý hoạt động như hình dưới, gồm 3 phần cơ bản là: khoang đun, hệ thống làm mát, và khoang chứa rượu chưng cất. Thông thường, mẫu rượu đầu có nồng độ cồn cao có thể lên đến 65% (v/v) sau giai đoạn chưng cất đầu tiên, và khoảng 25-30% (v/v) cho mẫu rượu sau [3]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Sơ đồ tóm tắt quy trình lên men rượu 1.2 Giới thiệu về họ Mucoraceae Họ Mucoraceae là họ nấm thuộc bộ Mucorales, đặc trưng bởi hệ sợi không vách ngăn. Một số chi có thể kể đến bao gồm Absidia, Apophysomyces, Mucor, Rhizomucor, và Rhizopus.