LỜI MỞ ĐẦU Đã từ lâu con người biết rằng đái tháo đường (ĐTĐ) hay bệnh tiểu đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa, nhưng những biến chứng mà nó gây ra thì gần đây mới được làm sáng tỏ. Từ những năm 90 của thế kỷ 20, các chuyên gia y tế đã dự báo “Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh rối loạn chuyển hoá”. Bệnh ĐTĐ có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm và là nguyên nhân hàng đầu gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy thận giai đoạn cuối và mù lòa… làm tăng tỷ lệ tử vong lên gấp 2-4 lần so với người không bị ĐTĐ. Trên thế giới, bệnh đái tháo đường có ở tất cả các châu lục, các vùng lãnh thổ, các nước có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau.
Bệnh càng ngày càng phổ biến nhất là do tuổi thọ ngày càng tăng, ăn uống ngày càng nhiều và thức ăn có chiều hướng sử dụng các thức ăn chế biến sẵn, giàu chất dinh dưỡng, ít chất xơ [3]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, năm 1985 trên thế giới có trên 30 triệu người mắc bệnh đái tháo đường nhưng tới năm 1994 Nhật Bản đã thống kê được con số người bị đái tháo đường là 120 triệu [3]. Năm 2000, số người mắc bệnh tiểu đường trên khắp thế giới là hơn 170 triệu người và ước tính đến năm 2030 con số này sẽ là 366 triệu người [54]. Riêng ở Việt Nam, số người mắc bệnh ĐTĐ là 7-8 triệu người vào năm 2025.
Với sự gia tăng số bệnh nhân mắc bệnh, kéo theo đó là hàng loạt những hệ lụy và thách thức cho sự phát triển kinh tế và xã hội thì việc phòng và điều trị ĐTĐ là vấn đề cấp thiết hiện nay. Y học đã có rất nhiều phương pháp và các loại thuốc để điều trị bệnh tiểu đường như: tiêm insulin, dùng các loại thuốc nhóm Sulfonylurea, Biguanid, dẫn chất Thiazolidinedion, các chất ức chế Aldose reductase, các chất ức chế α- glucosidase (AGIs) và các thuốc uống chống đái tháo đường thuộc nhóm Glymidin, Gum guar, Repaglinid…. Hiện đã có một số chất được lưu hành trên thị trường như acarbose, voglibose, miglitol, emiglitat. Tuy nhiên, các loại thuốc này cũng có nhiều Phạm Thị Thùy Nhung 1 Viện CNSH& TP Luận văn thạc sĩ kỹ thuật tác dụng phụ như: hạ đường huyết, dị ứng thuốc, rối loạn tiêu hóa, rối loạn chức năng gan, thận.
Do đó, nghiên cứu về thực phẩm chức năng có tác dụng ức chế alpha glucosidase và alpha amylase là hướng đi được tập trung nghiên cứu cả trên thế giới và Việt Nam. Trà rau má hòa tan, chanh leo hòa tan… hay viên nang chứa thành phần cao chiết dịch với hoạt tính kìm hãm α-glucosidase đã được nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm lâm sàng thành công ở nước ta. Ngoài ra, những nghiên cứu về hoạt chất kìm hãm AGIs và AAIs từ đậu đen và đậu tương lên men đã có những ghi nhận đáng kể trong vài năm trở lại đây. Các nghiên cứu trước đã cho kết quả khẳng định đậu đen lên men bằng Aspergillus oryzae có chứa các chất kìm hãm alpha amylase và alpha glucosidase sẽ giúp ích trong việc kiểm soát lượng đường trong máu.
Trong nghiên cứu này, đề tài thực hiện nghiên cứu: “Khảo sát điều kiện bảo quản sản phẩm chứa chất kìm hãm alpha amylase và alpha glucosidase”. Đối tượng nghiên cứu là đậu đen lên men bằng Aspergillus oryzae. Mục tiêu và nội dung chính của đề tài bao gồm: P Mục tiêu của đề tài: Xác định điều kiện bảo quản thích hợp cho các dạng sản phẩm chứa chất kìm hãm alpha amylase và alpha glucosidase. P Nội dung của đề tài và các vấn đề cần giải quyết: - Khảo sát và lựa chọn một số điều kiện tách chiết: sử dụng sóng siêu âm có gia nhiệt, sóng siêu âm không gia nhiệt và điều kiện thường có gia nhiệt.
- Đánh giá hoạt tính kìm hãm α-glucosidase và hoạt tính kìm hãm α-amylase của các phân đoạn sau khi tinh sạch sơ bộ sản phẩm. - Đánh giá hàm lượng peptide và amino acid của từng phân đoạn sau tinh sạch sơ bộ sản phẩm. Phạm Thị Thùy Nhung 2 Viện CNSH& TP Luận văn thạc sĩ kỹ thuật - Xác định ảnh hưởng của dạng sản phẩm, nhiệt độ bảo quản đến hoạt tính kìm hãm α-glucosidase. - Khảo sát ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến hoạt tính kìm hãm α- glucosidase và α-amylase.
Phạm Thị Thùy Nhung 3 Viện CNSH& TP Luận văn thạc sĩ kỹ thuật PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan bệnh đái tháo đường 1.1 Giới thiệu chung về bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) Theo Tổ chức Y tế thế giới, “Đái tháo đường là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động của insulin” [2]. Tháng 1/2003, các chuyên gia thuộc Ủy ban chuẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đường Hoa Kỳ lại đưa ra một nhận định mới về đái tháo đường: “Đái tháo đường là một nhóm các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc của cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [3]. Cùng với sự gia tăng tỉ lệ bệnh nhân bị ĐTĐ là chi phí dành cho việc quản lý, chăm sóc và điều trị bệnh ĐTĐ cũng tăng theo.
Hiện nay, chi phí dành cho bệnh nhân tiểu đường khoảng 153-286 tỷ USD/năm và dự kiến đến năm 2025 con số này sẽ lên tới 213-396 tỷ USD/năm, chiếm 7-13% ngân sách Y tế thế giới [9]. Gánh nặng bệnh tật và gánh nặng kinh tế là rất lớn đặc biệt ở các nước đang phát triển, điều kiện kinh tế và chăm sóc sức khỏe còn hạn chế. Theo thống kê mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới cứ 10 giây lại có một người chết vì bệnh tiểu đường.2 Phân loại ĐTĐ và biến chứng 1.1 Phân loại ĐTĐ Cách đây vài chục năm người ta phân loại theo ĐTĐ phụ thuộc insulin và ĐTĐ không phụ thuộc insulin (theo cách phân loại của Tổ chức Y tế thế giới năm 1985). Nhưng từ năm 2000 trở lại đây lại có khuynh hướng phân loại ĐTĐ type 1 và type 2.
Phạm Thị Thùy Nhung 4 Viện CNSH& TP Luận văn thạc sĩ kỹ thuật a) ĐTĐ type 1 ĐTĐ type 1 được tin là liên quan tới quá trình tăng lên của tế bào T (Tregs) hay chính là gián tiếp liên quan đến sự thoái hóa các tế bào beta trong tuyến tụy. Các tế bào T và sản phẩm của chúng như interferon-α và các nhân tố hoại tử α (TNFα) được cho là dẫn đến sự thoái hóa này dẫn đến không sản xuất được insulin. Đây là type ĐTĐ nặng và chiếm khoảng 15-20% các trường hợp ĐTĐ trên thế giới [22,31]. Ngoài ra còn có nghiên cứu chỉ ra rằng vùng gen kháng nguyên bạch cầu người HLA trên nhiễm sắc thể 6p21 cũng là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh về miễn dịch ở người mà trong đó có tiểu đường type 1 [22].
ĐTĐ type 1 phụ thuộc nhiều vào các yếu tố về gen. Các nghiên cứu về gen liên quan đến tiểu đường type 1 đã được nghiên cứu và công bố nhiều, trong số đó phải kể tới các gen PTPN22 - đoạn mã hóa cho lympho protein tyrosine photphatase, sự biến đổi của các allen trong vùng gen interleukin (IL)-2-receptor-α (IL2RA) [22]. b) ĐTĐ type 2 ĐTĐ type 2 thường khởi phát sau 35 tuổi và hầu hết những người bị ĐTĐ type này đều béo phì. Chiếm 90-95% trong tổng số các trường hợp bị bệnh tiểu đường là ĐTĐ loại này [21].
Đặc trưng của ĐTĐ type 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối. Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý của ĐTĐ type 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và môi trường trong cơ thể người bệnh. Người mắc bệnh ĐTĐ type 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát đường huyết, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin. c) Đái tháo đường thai nghén: ĐTĐ thai nghén thường gặp ở phụ nữ có thai lần đầu có đường huyết tăng.
Sự tiến triển của ĐTĐ thai nghén sau khi sinh theo 3 khả năng: bị đái tháo đường, giảm dung nạp glucose hoặc bình thường [4]. Phạm Thị Thùy Nhung 5 Viện CNSH& TP Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Ngoài ra còn có các thể ĐTĐ khác (hiếm gặp) có liên quan đến một số bệnh, thuốc, hóa chất… 1.2 Các biến chứng của ĐTĐ Biến chứng cấp tính: Không kể đến các biến chứng tụt đường huyết là do điều trị, các biến chứng cấp tính chủ yếu chiếm khoảng 6%, các bệnh nhân ĐTĐ gồm nhiễm acid ceton, hôn mê tăng thẩm thấu và nhiễm acid lactic. Biến chứng mạn tính: Bao gồm các bệnh liên quan đến mắt (viêm võng mạc, đục thủy tinh thể), thận (xơ hóa mao mạch cầu thận, nhiễm khuẩn, hoại tử ống thận), thần kinh (thần kinh ngoại biên, thần kinh vận động).3 Tình hình bệnh đái tháo đường trên thế giới và ở Việt Nam ĐTĐ được biết đến như là một trong số các nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong, bệnh tật và suy giảm kinh tế trên toàn thế giới. Theo Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) đã ước tính khoảng 314 triệu người có các triệu chứng suy giảm glucose và con số này sẽ tăng lên trong năm 2030 là 472 triệu người.
Tỷ lệ ĐTĐ thay đổi theo từng nước có nền công nghiệp phát triển hay đang phát triển và thay đổi theo từng vùng địa lý khác nhau. Trong đó, nơi có bệnh nhân ĐTĐ cao nhất là khu vực Đông Thái Bình Dương (26,9%) và Đông Nam Á (20,6%), thấp nhất là khu vực châu Phi (4,2%) [61]. Các quốc gia khác cũng có số bệnh nhân đái tháo đường không ngừng tăng thậm chí là với các nước có nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, Trung Quốc. Nếu như ở các quốc gia phát triển, số người mắc bệnh tập trung ở nhóm người cao tuổi thì ở các nước đang phát triển lại chủ yếu tập trung ở nhóm người trẻ hơn (45-64 tuổi) [54].
Trong số 10 nước được dự đoán là có số người mắc bệnh tiểu đường cao nhất vào năm 2030, ở khu vực châu Á đã chiếm tới 5 quốc gia là Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Indonesia và Bangladesh.