Thực Trạng Viêm Mũi Dị Ứng Do Bụi Bông Ở Công Nhân Dệt May Nam Định Và Kết Quả Giải Pháp Can Thiệp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông ở công nhân dệt may nam định và kết quả giải pháp, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Đại Học Y Dược Hải Phòng

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

148
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Bệnh viêm mũi dị ứng

1.2. Viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông ở công nhân dệt may

1.3. Các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ viêm mũi dị ứng trên công nhân

1.4. Thông tin về địa bàn nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian và các giai đoạn nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Các biến số, chỉ số nghiên cứu

2.4. Các phương pháp và kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

2.5. Vật liệu, máy móc và trang thiết bị nghiên cứu

2.6. Triển khai các hoạt động can thiệp

2.7. Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

2.8. Phương pháp khống chế sai số

2.9. Vấn đề đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG MẮC VIÊM MŨI DỊ ỨNG DO DỊ NGUYÊN BỤI BÔNG CỦA CÔNG NHÂN TẠI CƠ SỞ DỆT, MAY NAM ĐỊNH

3.1. Một số yếu tố liên quan bệnh viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông

3.2. Kết quả của giải pháp can thiệp bằng truyền thông thay đổi hành vi và thuốc kháng Leukotriene trên nhóm viêm mũi dị ứng của công nhân dệt may Nam Định

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ GIẢI PHÁP CAN THIỆP

4.1. Một số yếu tố liên quan bệnh viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông

4.2. Kết quả giải pháp can thiệp

4.3. Hạn chế và đóng góp chính của đề tài

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH TRIỂN KHAI ĐỀ TÀI

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Ngành công nghiệp dệt may tại Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Nam Định, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, môi trường làm việc trong ngành này chứa nhiều dị nguyên, trong đó có bụi bông, dẫn đến tình trạng viêm mũi dị ứng (VMDƯ) ở công nhân. Theo thống kê, tỷ lệ mắc VMDƯ trong dân số Việt Nam dao động từ 10-18%. Bệnh này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn tác động đến năng suất lao động. Nghiên cứu này nhằm mục đích mô tả thực trạng VMDƯ do dị nguyên bụi bông ở công nhân dệt may Nam Định và tìm ra các giải pháp can thiệp hiệu quả.

II. Thực Trạng Viêm Mũi Dị Ứng Do Dị Nguyên Bụi Bông

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ công nhân mắc VMDƯ do bụi bông tại các cơ sở dệt may Nam Định là khá cao. Các yếu tố như độ tuổi, giới tính, và thời gian làm việc có mối liên quan chặt chẽ đến tình trạng bệnh. Cụ thể, công nhân nữ và những người làm việc lâu năm có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn. Theo một nghiên cứu, tỷ lệ mắc VMDƯ ở công nhân dệt may lên tới 32%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời để bảo vệ sức khỏe người lao động.

III. Các Giải Pháp Can Thiệp

Để giảm tỷ lệ mắc VMDƯ, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp can thiệp như truyền thông thay đổi hành vi và sử dụng thuốc kháng Leukotriene. Kết quả cho thấy, sau khi áp dụng các biện pháp này, triệu chứng của bệnh nhân đã cải thiện rõ rệt. Cụ thể, tỷ lệ triệu chứng ngứa mũi, hắt hơi và chảy mũi giảm đáng kể. Việc nâng cao nhận thức của công nhân về bệnh VMDƯ và cách phòng ngừa là rất quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe cộng đồng.

IV. Kết Luận và Đề Xuất

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng viêm mũi dị ứng do bụi bông là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đối với công nhân dệt may tại Nam Định. Các giải pháp can thiệp đã được áp dụng và cho thấy hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng bệnh và phát triển các chương trình can thiệp bền vững hơn. Việc bảo vệ sức khỏe cho công nhân không chỉ là trách nhiệm của các cơ sở sản xuất mà còn là nhiệm vụ của toàn xã hội.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông ở công nhân dệt may nam định và kết quả giải pháp can thiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay ở nước ta ngành công nghiệp dệt may ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao và phong phú, đa dạng của con người mà còn giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho xã hội và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách quốc gia, tạo điều kiện để phát triển kinh tế. Đặc thù của ngành dệt may là sử dụng dây chuyền công nghệ giản đơn, mức độ lao động tuy không quá nặng nhọc nhưng gò bó, đòi hỏi nhịp độ công nghiệp nhanh… Tỷ lệ lao động nữ rất cao, chiếm khoảng 80 - 90% và phần lớn ở độ tuổi 20 -35 tuổi, thời gian làm việc trung bình trên 8h/ngày, nhiều khi lên tới 10 - 12h/ngày [10]. Môi trường lao động trong các cơ sở dệt may trong đó có dị nguyên bụi bông là một trong những nguyên nhân gây các bệnh dị ứng đường hô hấp trên như viêm mũi dị ứng, hen phế quản.

Bệnh viêm mũi dị ứng là một trong những bệnh phổ biến, bệnh có thể gặp ở mọi đối tượng, từ trẻ em đến người lớn tuổi. Theo thông báo từ dịch tễ học, tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng đường hô hấp chiếm từ 10 - 15 % dân số thế giới, tại Việt Nam, viêm mũi dị ứng chiếm khoảng 32% trong các bệnh lý về tai mũi họng. Bệnh phổ biến hơn ở vùng khí hậu nhiệt đới như Việt Nam và các khu vực công nghiệp, nông nghiệp, gần các vùng có tình trạng ô nhiễm, có dị nguyên. Mặc dù các yếu tố bệnh căn của dị ứng rất đa dạng, dị ứng với bụi bông là một bệnh phổ biến trong nhiều ngành nghề trong thời kì phát triển công nghiệp.

Nghiên cứu về các căn nguyên dị nguyên bụi bông, giảm mẫn cảm, giảm các ảnh hưởng của mẫn cảm đối với sức khỏe người lao động và người phơi nhiễm là một vấn đề y học quan tâm đối với sức khỏe cộng đồng. Bệnh viêm mũi dị ứng nghề nghiệp ở nhiều nước công nghiệp chiếm 2% tổng số bệnh nhân mắc bệnh dị ứng. Mẫn cảm nghề nghiệp tăng nặng hơn do ảnh hưởng của những yếu tố như nồng độ, cách phơi nhiễm dị nguyên, môi trường vi khí hậu ở chỗ làm việc, nấm mốc và hàng loạt các yếu tố khác [15]. 2 Tỉnh Nam Định được biết đến như là một khu trọng tâm phát triển chiến lược của ngành Dệt - May Việt Nam, cái nôi của ngành dệt may toàn quốc.

Theo báo Nam Định, đến hết năm 2017 toàn tỉnh có gần 6.000 cơ sở sản xuất dệt may bao gồm các doanh nghiệp và các hộ gia đình. Số doanh nghiệp dệt may chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu ngành công nghiệp của tỉnh [1]. Tuy nhiên cho đến nay còn rất ít nghiên cứu về bệnh viêm mũi dị ứng liên quan đến bụi bông và các yếu tố liên quan một cách đầy đủ và có hệ thống trong các cơ sở dệt may. Với một lực lượng đông đảo công nhân dệt may tại tỉnh Nam Định, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Tình trạng viêm mũi dị ứng của công nhân do ảnh hưởng của bụi bông trong các cơ sở dệt may hiện tại như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan tới tình trạng này? Các giải pháp giải pháp giải quyết vấn đề viêm mũi dị ứng của công nhân dệt may? Từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông ở công nhân dệt may Nam Định và kết quả giải pháp can thiệp”.

Nghiên cứu gồm những mục tiêu sau đây: 1. Mô tả thực trạng bệnh Viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông của công nhân cơ sở dệt may Nam Định năm 2014-2016 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng Viêm mũi dị ứng do bụi bông của công nhân cơ sở dệt may Nam Định. Đánh giá kết quả của giải pháp can thiệp bằng truyền thông thay đổi hành vi và thuốc kháng Leukotriene trên nhóm viêm mũi dị ứng của công nhân dệt may Nam Định.

Bệnh viêm mũi dị ứng 1. Định nghĩa Bệnh viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là tình trạng viêm niêm mạc mũi với vai trò của kháng thể IgE, thường xảy ra do tiếp xúc với dị nguyên đường hô hấp, với các biểu hiện bệnh lí đặc trưng bởi các triệu chứng: hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi và/hoặc ngứa mũi. Các triệu chứng này kéo dài thường ít nhất hai hay nhiều ngày liên tiếp hoặc nhiều hơn một giờ trong hầu hết mỗi ngày (ARIA Guidelines 2016) [43]. Dịch tễ học bệnh viêm mũi dị ứng VMDƯ là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại viêm mũi, nó cũng là một trong những dạng dị ứng phổ biến nhất trong các rối loạn về dị ứng.

Ở Việt Nam, theo nhiều nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ VMDƯ chiếm từ 10 -18% dân số. Tại hội nghị quốc tế về dị ứng ở Stockholm tháng 6 - 1994, các tác giả cho biết tỷ lệ mắc dị ứng từ 10 -19%. Ở Mỹ, thường xuyên có 20% dân số bị mắc chứng VMDƯ [29]. Với tỷ lệ mắc bệnh cao, dịch tễ học của VMDƯ đang được quan tâm rất nhiều.

Các nghiên cứu dịch tễ học của VMDƯ trên thực tế rất rời rạc chưa có số liệu cơ bản chăm sóc sức khỏe ban đầu về bệnh. Nghiên cứu sàng lọc chẩn đoán VMDƯ, xác định căn nguyên dị nguyên chưa được triển khai việc chẩn đoán phân biệt VMDƯ và viêm mũi không dị ứng thường khó [22]. Dịch tễ học bệnh viêm mũi dị ứng trên thế giới Tỷ lệ viêm mũi được báo cáo trong các nghiên cứu dịch tễ học được tiến hành ở nhiều quốc gia khác nhau, dao động từ 3% đến 19% [53]. Theo nghiên cứu tổng quan của tác giả David P.

Kết quả nghiên cứu của tác giả Hyote FC (2014) [67] đã cho thấy: Viêm mũi dị ứng ảnh hưởng đến ít nhất 60 triệu người ở Hoa Kỳ 4 mỗi năm, dẫn đến tác động lớn đến chất lượng cuộc sống, năng suất và chi phí trực tiếp và gián tiếp của bệnh nhân [67]. Trong những thập kỷ gần đây, nghiên cứu trong cộng đồng ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của VMDƯ nói riêng và bệnh dị ứng hô hấp nói chung. Theo ISAAC điều tra tại Vương quốc Anh (2012) tỷ lệ VMDƯ ở người lớn là 29%. Ở các nước đang phát triển và công nghiệp hóa tuy số liệu không đủ song người ta cũng thấy được tỷ lệ VMDƯ ngày một tăng dần [127].

Ở một số nước châu Á như Hồng Kông, Thái Lan có một số nghiên cứu đưa ra tỷ lệ VMDƯ vào khoảng 40% [98],[127]. Sự phổ biến của VMDƯ trong dân số trẻ em cũng dường như đang tăng lên. Nghiên cứu của tác giả Wright AL và CS (1994) nghiên cứu trên 747 trẻ 6 tuổi khỏe mạnh, cha mẹ của trẻ đã hoàn thành một bảng câu hỏi khi trẻ được 6 tuổi. Dữ liệu thu được liên quan đến viêm mũi dị ứng do bác sĩ chẩn đoán, các triệu chứng liên quan và tuổi lúc khởi phát.

Dữ liệu về yếu tố nguy cơ được lấy từ các bản câu hỏi trước đó, và dữ liệu liên quan đến Immunoglobulin E (IgE) và phản ứng kiểm tra da đã thu được khi trẻ 6 tuổi. Kết quả cho thấy tỷ lệ VMDƯ được chẩn đoán của bác sĩ ở trẻ em 6 tuổi là 42% [125]. Các tác giả cũng kết luận: Viêm mũi dị ứng phát triển trong những năm đầu tiên của cuộc đời là một biểu hiện sớm của một khuynh hướng dị ứng, có thể được kích hoạt bởi tiếp xúc với môi trường sớm [125]. Một nghiên cứu của tác giả Newacheck PW và Stoddard JJ (1994) [94] tiến hành khảo sát trên 17.710 trẻ em dưới 18 tuổi cũng cho thấy VMDƯ là bệnh dị ứng phổ biến nhất và một trong những bệnh mạn tính hàng đầu ở trẻ em <18 tuổi [94].

Phần lớn nghiên cứu ở các quần thể sinh viên đại học đưa ra các thông số cao hơn đáng kể so với tỷ lệ trên, và dao động trong khoảng 12% - 21% [89],[91],[112]. Các quốc gia có tỷ lệ mắc VMDƯ thấp như: Indonexia, Anbani, Romani,Georgia và Hy Lạp. Trong khi đó các nước có tỷ lệ rất cao là 5 Australia, New Zealan và Vương quốc Anh. Những năm 90 của thế kỷ XX, Theo điều tra quốc gia cho thấy VMDƯ ở người lớn chiếm 25,9 % tại Pháp và 29% tại Vương quốc Anh trong đó viêm mũi mạn tính ở người lớn phổ biến hơn ở trẻ em.

Năm 2006 - 2007, Masafumi Sakashita và cộng sự đó nghiên cứu VMDƯ ở Nhật Bản đó chỉ ra tỷ lệ VMDƯ ở người trưởng thành (20 - 49 tuổi) là 44,2% và không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi [85]. Nghiên cứu tổng quan của tác giả Mims JW (2014) [88] cũng cho kết quả: Các nghiên cứu dịch tễ học chứng minh sự thay đổi đáng kể trên toàn cầu trong tỷ lệ mắc các triệu chứng viêm mũi và các xét nghiệm dị ứng [88]. Tác giả Kim BK và cộng sự (2014) phân tích dữ liệu từ cơ sở dữ liệu của Bảo hiểm Y tế Quốc gia Hàn Quốc, dữ liệu chẩn đoán toàn quốc từ năm 2009 đến năm 2014 đã phát hiện tỷ lệ mắc viêm mũi dị ứng trong 1000 người dân là 133,1 [79]. Viêm mũi dị ứng bắt nguồn từ những nguyên nhân di truyền, dị ứng với các dị nguyên là phấn hoa, mùi vị, bụi, nấm, hóa chất,.

hay lệch lạc cấu trúc vách ngăn mũi. Khi tiếp xúc với các dị nguyên, cơ thể sẽ giải phóng histamin gây viêm và tiết dịch ở niêm mạc hốc mũi, khoang họng, kết mạc mắt gây ra các triệu chứng dị ứng như ngứa mũi, hắt hơi liên tục. Bệnh không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng nhưng theo các chuyên gia tai mũi họng, bệnh gây ra rất nhiều phiền toái, ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ, giấc ngủ, học hành, công việc, chất lượng cuộc sống của người bệnh [57]. Nó cũng là một trong số các nguyên nhân chính dẫn đến viêm xoang mạn tính [29] và hen phế quản [78],[90].

Nghiên cứu tổng quan công bố năm 2013 của tác giả An-Soo Jang về vai trò của viêm mũi xoang đối với bệnh hen đã khẳng định: Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy viêm mũi dị ứng và viêm mũi xoang có thể ảnh hưởng đến quá trình lâm sàng của bệnh hen suyễn [72]. Dịch tễ học bệnh viêm mũi dị ứng tại Việt Nam 6 Là một đất nước nhiệt đới, tỉ lệ bệnh nhân bị VMDƯ quanh năm ở Việt Nam khá cao. Ô nhiễm môi trường và sự xuất hiện của những dị nguyên mới đóng vai trò tác nhân quan trọng [10].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực Trạng Viêm Mũi Dị Ứng Do Bụi Bông Ở Công Nhân Dệt May Nam Định Và Giải Pháp Can Thiệp Hiệu Quả là một nghiên cứu chuyên sâu về tình trạng sức khỏe của công nhân trong ngành dệt may tại Nam Định, đặc biệt tập trung vào bệnh viêm mũi dị ứng do tiếp xúc với bụi bông. Tài liệu này không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp can thiệp hiệu quả nhằm cải thiện điều kiện làm việc và sức khỏe của người lao động. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, chuyên gia y tế và những người quan tâm đến an toàn lao động trong ngành công nghiệp dệt may.

Để hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến môi trường làm việc, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ thực trạng và hiệu quả can thiệp bệnh hen phế quản của công nhân tiếp xúc bụi bông tại cơ sở dệt may nam định. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ thực trạng chăm sóc sức khỏe người lao động tại một số khu công nghiệp tỉnh đồng nai năm 2013 và hiệu quả giải pháp can thiệp cũng cung cấp những góc nhìn sâu sắc về chăm sóc sức khỏe trong môi trường công nghiệp. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều kiện môi trường làm việc và sức khỏe bệnh tật của cảnh sát giao thông đường bộ là một tài liệu tham khảo quý giá về tác động của môi trường làm việc đến sức khỏe.