ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe người lao động luôn là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng và năng suất lao động; gây ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên hiện nay sức khỏe người lao động đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong khi đó công tác chăm sóc sức khỏe cho người lao động chưa được quan tâm đúng mức [25], [27]. Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hàng năm có khoảng 337 triệu vụ tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,3 triệu chết do bệnh liên quan đến lao động [27], [83]. Tại Việt Nam, tỷ lệ người lao động bị thương tật lao động, mắc bệnh nghề nghiệp và tử vong có xu hướng gia tăng. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Tuần lễ Quốc gia An toàn lao động và phòng chống cháy nổ Trung ương, trong năm 2011, cả nước đã xảy ra gần 6.000 vụ tai nạn lao động, làm 6.154 người bị nạn (tăng 16% so với năm 2010), trong đó có 574 người chết [6], [31].
Bệnh nghề nghiệp có xu hướng gia tăng cả về số người mắc bệnh và loại bệnh. Tổng số người mắc bệnh nghề nghiệp đã qua giám định tính đến cuối năm 2010 là 26.928 trường hợp. Qua khám sức khoẻ định kỳ hàng năm thấy, tỷ lệ người lao động có sức khoẻ yếu (loại 4) và rất yếu (loại 5) đứng ở mức cao, năm 2010 là 8,8% và tỷ lệ nghỉ ốm năm 2010 là 24,7% tổng số người lao động của các doanh nghiệp có báo cáo [6]. Tỉnh Đồng Nai có 30 khu công nghiệp lớn với khoảng 400.000 người lao động vào thời điểm cuối năm 2011.
Đồng Nai cũng là một trong số ít các địa phương trên cả nước xảy ra nhiều tai nạn lao động và có tỷ lệ người lao động mắc bệnh nghề nghiệp ở mức cao. Bình quân mỗi năm xẩy ra 4.383 vụ TNLĐ, làm 4553 người bị nạn với 489 người chết, số vụ TNLĐ tăng 7,95% hàng 2 năm.500 người mắc bệnh nghề nghiệp đưa tổng số người mắc bệnh nghề nghiệp tính đến cuối năm 2007 là 23. Tại tỉnh Đồng Nai Trung tâm BVSK và MT tỉnh được thành lập khá sớm, songhệ thống CSSK cho NLĐ còn yếu và thiếu về nhân lực và vật lực, khả năng cung cấp dịch vụ CSSK cho NLĐ chưa đáp ứng được nhu cầu. Trong khi đó, tâm lý của NLĐ muốn giấu bệnh với đồng nghiệp và cơ quan nên NLĐ ít tới hệ thống y tế lao động để được CSSK.
Sự phối hợp của các tổ chức, ban, ngành, đoàn thể trong chăm sóc sức khỏe người lao động chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ. Các cơ sở y tế tham gia công tác CSSK chưa đồng đều về chất lượng cũng như chi phí CSSK cho NLĐ dẫn tới nhiều bất cập trong công tác CSSK của NLĐ. Công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho người lao động luôn được Ðảng, Nhà nước và các địa phương quan tâm, bằng việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật y tế, ban hành nhiều văn bản pháp quy và các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn lao động, bảo đảm chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người lao động [36]. Tuy nhiên, sự quan tâm còn chưa đúng mức nên kết quả đạt được còn hạn chế, tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vẫn có xu hướng gia tăng, người lao động vẫn chưa được chăm sóc sức khỏe đầy đủ.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe cho người lao động tại một số khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, năm 2013. Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp cải thiện chăm sóc sức khỏe cho người lao động tại địa bàn nghiên cứu. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
THỰC TRẠNG SỨC KHOẺ VÀ CÔNG TÁC CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Thực trạng sức khỏe người lao động trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp trên thế giới Hàng năm có khoảng 337 triệu vụ tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,3 triệu chết do bệnh liên quan đến lao động [27], [83]. Thiệt hại do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ước tính khoảng 4% GDP của toàn thế giới.
Ở một số nước có thu nhập cao, khoảng 40% số người nghỉ hưu trước tuổi là bị thương tật do lao động. Tính trung bình số thời gian bị rút ngắn này khoảng 5 năm, tương đương 14% độ dài thời gian có khả năng làm việc của lực lượng lao động. Tính trung bình 5% lực lượng lao động nghỉ việc do ảnh hưởng sức khoẻ trong lao động. 1/3 số người thất nghiệp do bị suy giảm khả năng lao động, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tái sản xuất sức lao động của xã hội.
Các nghiên cứu về tai nạn lao động trên thế giới cho thấy ở các quốc gia đang phát triển, tần suất tai nạn lao động chết người là 30 - 43 người /100. Ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Italia., hàng năm vẫn có những trường hợp mắc mới BNN [27],[83]. Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy, trong số 115 triệu người lao động của Cộng đồng Châu Âu đã có hơn 10 triệu người bị tai nạn lao động (TNLĐ) hoặc bệnh nghề nghiệp (BNN) hàng năm. Số người chết vì tai nạn lao động là hơn 8000 người/ năm.
Thiệt hại kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm. Ở Anh, chi phí cho người bị tai nạn bằng 4 - 8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công nghiệp của Anh. Tại Hà Lan, chi phí cho bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động bằng khoảng 4% GNP [74], [98], [99]. 4 Tại Mỹ, mỗi ngày có khoảng 9.000 người bị thương tật do tai nạn lao động và 153 người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thiệt hại kinh tế hàng năm do tai nạn lao động xảy ra trong công nghiệp là 190 tỉ đô la Mỹ [66], [125].
Tại Châu Á, nhiều nước với sự năng động và việc tập trung mọi nỗ lực cho phát triển kinh tế bắt đầu từ Thập kỉ thứ 6 của Thế kỉ 20 đã đem đến cho khu vực một sự khởi sắc mới về phát triển kinh tế, xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống. Nhiều công nghệ, kĩ thuật mới đã được đưa vào ứng dụng đã giải phóng sức lao động con người, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm [92], [93], [94], [95], [96], [97]. Tuy nhiên, do quá tập trung cho phát triển kinh tế và chưa coi trọng đến công tác an toàn - vệ sinh lao động nên số vụ tai nạn lao động, ốm đau, bệnh tật đã tăng nhanh [122], [123], [124]. Tại hàng loạt nước công nghiệp phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản,.
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có thể coi như “đại dịch” [91], [110], [111], [113]. Thực trạng sức khỏe chung và tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam Sức khoẻ người lao động có thể đánh giá khái quát qua kết quả khám sức khoẻ định kỳ. Việc phân loại sức khoẻ trong khám định kỳ hiện đang sử dụng tiêu chuẩn theo Quyết định 1613/1997/QĐ-BYT ngày 15/8/1997 của Bộ Y tế [15], [16]. Trong 5 năm (1996 - 2000), Trung tâm Y tế - Môi trường lao động công nghiệp (Bộ Công nghiệp) đã khám sức khoẻ định kỳ cho 147.898 lượt người ở các cơ sở công nghiệp, kết quả phân loại sức khỏe trung bình như sau: loại 1: 16,84%; loại 2: 45,0%; loại 3: 33,48%; loại 4: 4,23%; loại 5: 0,45%.
An toàn và vệ sinh lao động được xem xét tổng thể về môi trường lao động, tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. * Môi trường lao động [57], [58]: 5 Tại các cơ sở thường xuyên giám sát môi trường lao động, các yếu tố có chỉ số vượt tiêu chuẩn cho phép có xu hướng giảm, một số yếu tố nguy cơ đã được cải thiện. Tổng số mẫu xét nghiệm kiểm tra môi trường trung bình 3 năm 2006-2010 là 300.000 mẫu/năm (tăng 42% so với 210.000 mẫu giai đoạn 2001-2005); trong đó số mẫu không đạt tiêu chuẩn cho phép giảm còn 13,3% so với 19,6% của giai đoạn 2001-2005. Năng lực giám sát môi trường tăng.
Năm 2006 giám sát môi trường lao động cho 1. Tỷ lệ vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với các yếu tố ồn, bụi, vi khi hậu, rung, ánh sáng khá cao. *Tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sức khoẻ người lao động Tình hình tai nạn lao động vẫn đang có xu hướng gia tăng, tuy nhiên tần suất tai nạn lao động đã có dấu hiệu giảm tại một số địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Long An. Các địa phương xảy ra nhiều TNLĐ chết người là những địa phương có công nghiệp phát triển như thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương.
Các bộ, ngành xảy ra nhiều TNLĐ chết người là các doanh nghiệp thuộc Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông - vận tải [1], [40], [57], [58],[59]. Tổng hợp tình hình TNLĐ 2005 - 2010 trong khu vực doanh nghiệp Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Số vụ 4.836 6250 5125 Số người bị nạn 4.047 6421 5307 Số vụ chết người 443 505 505 508 507 554 Số người chết 473 536 621 573 550 601 Theo số liệu thống kê từ cơ quan bảo hiểm xã hội, từ năm 2006 - 2009, bình quân mỗi năm có 676 người chết do tai nạn lao động, tần suất tai nạn lao động chết người tính trên số người tham gia bảo hiểm xã hội giảm bình quân mỗi năm là 7,43% so với năm 2005 Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Tuần lễ Quốc gia ATVSLĐ – PCCN Trung ương, trong năm 2011, cả nước đã xảy ra gần 6.000 vụ tai nạn lao động, làm 6.154 người bị nạn ( tăng 16%), trong đó có 574 người chết (giảm 4,5%). Tần suất tai nạn lao động đã giảm. Thiệt hại về vật chất hơn 300 tỷ đồng và làm mất trên 660 nghìn ngày công lao động.
Tai nạn lao động đang xảy ra nhiều và nghiêm trọng trong các lĩnh vực: xây dựng, khai thác khoáng sản, cơ khí, xây lắp… tập trung tại các địa bàn trọng điểm phát triển công nghiệp như: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hà Nội, Đồng Nai… Tính đến nay cả nước đã xẩy ra 1.764 vụ cháy, 25 vụ nổ, làm chết 84 người và 245 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính 925 tỷ đồng và 2000 héc ta rừng. Tần suất tai nạn lao động theo số ngƣời tham gia BHXH BQ 2006- TT NỘI DUNG 2005 2006 2007 2008 2009 2009 1 Số người tham 6.