Đề tài nghiên cứu về thực trạng việc làm thêm của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một năm 2015

Tài liệu nghiên cứu Đềtài nghiên cứu khoa học của sinh viên tham gia cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học năm học, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Trường đại học

Đại học Thủ Dầu Một

Chuyên ngành

Giáo dục tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo

2015

76
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thực trạng việc làm thêm của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một năm 2015

Năm 2015, sinh viên Đại học Thủ Dầu Một đối mặt với nhiều thách thức trong việc tìm kiếm việc làm thêm. Với khoảng 900.000 sinh viên trên toàn quốc, trong đó có nhiều sinh viên ngoại tỉnh, việc làm thêm trở thành một nhu cầu thiết yếu. Sinh viên không chỉ cần trang trải chi phí sinh hoạt mà còn muốn tích lũy kinh nghiệm thực tế. Tuy nhiên, việc làm thêm cũng đặt ra nhiều câu hỏi về ảnh hưởng đến học tập và sức khỏe của sinh viên.

1.1. Tình hình việc làm thêm của sinh viên hiện nay

Thực trạng việc làm thêm của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một cho thấy nhiều sinh viên tham gia vào các công việc bán thời gian để hỗ trợ tài chính. Họ thường tìm kiếm việc làm qua mạng xã hội hoặc các trang web việc làm.

1.2. Lý do sinh viên chọn làm thêm

Nhu cầu tài chính là lý do chính khiến sinh viên tìm kiếm việc làm thêm. Ngoài ra, họ cũng mong muốn có thêm kinh nghiệm và kỹ năng thực tế để chuẩn bị cho tương lai nghề nghiệp.

II. Những thách thức trong việc làm thêm của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một

Việc làm thêm mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng đi kèm với không ít thách thức. Sinh viên thường gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa học tập và làm việc. Nhiều sinh viên phải đối mặt với áp lực từ công việc, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập.

2.1. Khó khăn trong việc cân bằng thời gian

Nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc sắp xếp thời gian giữa học tập và làm thêm. Điều này có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng và giảm hiệu suất học tập.

2.2. Rủi ro từ việc làm thêm

Sinh viên có thể gặp phải rủi ro như bị lừa đảo hoặc làm việc trong môi trường không an toàn. Những rủi ro này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của sinh viên.

III. Phương pháp tìm kiếm việc làm thêm hiệu quả cho sinh viên

Để tìm kiếm việc làm thêm hiệu quả, sinh viên cần áp dụng một số phương pháp nhất định. Việc sử dụng mạng xã hội và các trang web việc làm có thể giúp sinh viên tiếp cận nhiều cơ hội hơn.

3.1. Sử dụng mạng xã hội để tìm việc

Mạng xã hội như Facebook, LinkedIn là những công cụ hữu ích giúp sinh viên tìm kiếm việc làm thêm. Nhiều nhà tuyển dụng đăng tin tuyển dụng trên các nền tảng này.

3.2. Tham gia các hội chợ việc làm

Hội chợ việc làm là cơ hội tốt để sinh viên gặp gỡ trực tiếp nhà tuyển dụng. Tại đây, sinh viên có thể tìm hiểu về các công việc và nộp hồ sơ ngay tại chỗ.

IV. Ảnh hưởng của việc làm thêm đến sinh viên Đại học Thủ Dầu Một

Việc làm thêm có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến sinh viên. Trong khi một số sinh viên có thể cải thiện kỹ năng và thu nhập, những người khác có thể gặp khó khăn trong việc duy trì thành tích học tập.

4.1. Ảnh hưởng tích cực đến kỹ năng và thu nhập

Việc làm thêm giúp sinh viên phát triển kỹ năng mềm và tăng cường khả năng làm việc nhóm. Ngoài ra, thu nhập từ công việc cũng giúp sinh viên trang trải chi phí sinh hoạt.

4.2. Ảnh hưởng tiêu cực đến học tập

Nhiều sinh viên cho biết việc làm thêm làm giảm thời gian học tập và ảnh hưởng đến kết quả học tập. Điều này có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng và lo âu.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho sinh viên làm thêm

Việc làm thêm là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một. Tuy nhiên, cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo rằng việc làm thêm không ảnh hưởng tiêu cực đến học tập. Các giải pháp cần được triển khai để hỗ trợ sinh viên trong việc tìm kiếm việc làm an toàn và hiệu quả.

5.1. Đề xuất giải pháp hỗ trợ sinh viên

Cần có các chương trình hỗ trợ sinh viên trong việc tìm kiếm việc làm thêm, bao gồm các buổi tư vấn nghề nghiệp và đào tạo kỹ năng.

5.2. Tương lai của việc làm thêm cho sinh viên

Việc làm thêm sẽ tiếp tục là một xu hướng trong tương lai. Sinh viên cần chuẩn bị tốt để tận dụng cơ hội này một cách hiệu quả.

15/07/2025
Đềtài nghiên cứu khoa học của sinh viên tham gia cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2014 2015thực trạngviệc làm thêm của sinh viên đại học thủdầu mộtthuộc nhóm ngành khoa học giáo dục họcnăm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu (5 trang); Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về việc làm thêm của SV (10 trang), Chƣơng 2. Thực trạng việc làm thêm của SV trƣờng đại học Thủ Dầu Một (29 trang), Chƣơng 3. Đề xuất một số giải pháp (8 trang); Phần kết luận và kiến nghị (3 trang).

Trong báo cáo có 15 bảng, 17 hình, 21 tài liệu tham khảo và 01 phụ lục. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN VÀ VẤN ĐỀ LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về việc làm Theo trang thông tin điện tử và của công đoàn bƣu điện Việt Nam: Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi ngƣời vì nhờ nó con ngƣời có điều kiện tạo nhu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình và các thành viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện để con ngƣời tham gia vào các hoạt động xã hội, quan hệ xã hội, qua đó khẳng định vai trò, giá trị xã hội của mình.

Việc làm là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt, đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều góc độ khác nhau, thí dụ: “Việc làm là một quan hệ sản xuất nảy sinh do có sự kết hợp giữa cá nhân ngƣời lao động kinh tế của xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách thức kiếm sống của con ngƣời, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo khuôn khổ của quá trình kinh tế”. Điều 9, Bộ luật lao động, quy định rõ: “Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. [10] Trên thực tế việc làm nêu trên đƣợc thể hiện dƣới 3 hình thức: Một là, làm công việc để nhận tiền lƣơng, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tƣ liệu sản xuất để tiến hành công việc đó.

Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lí. Khái niệm trên nói chung là khá bao quát nhƣng chúng ta cũng thấy rõ hạn chế cơ bản. Hạn chế thứ nhất: hoạt động nôi trợ không đƣợc coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ.

Hạn chế thứ hai: khó có thể so sánh tỉ lệ ngƣời có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán,…có những nghề ở quốc gia này thì đƣợc 8 phép và đƣợc coi đó là việc làm nhƣng ở quốc gia khác lại bị cấm. ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam bị cấm nhƣng ở Thái Lan, Mĩ đó lại đƣợc coi là một nghề thậm chí là rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thƣợng lƣu. Trên thế giới, quan niệm về việc làm đƣợc đƣa ra dƣới nhiều góc độ, với những phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Tuy nhiên, trong cuộc sống, phạm vi tác động của con ngƣời vào vật chất thì rất rộng nhƣng không phải tác động nào cũng thu đƣợc lợi nhuận.

Thực tế, có những tác động của con ngƣời vào thế giới vật chất không phải là việc làm nhƣng lại có nhiều trƣờng hợp thực hiện việc làm không thu đƣợc lợi nhuận hoặc không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, quan niệm này không chỉ rõ phạm vi hợp lí của khái niệm việc làm. Cố vấn văn phòng Quốc tế Giăng Mutê đƣa ra quan điểm: “Việc làm như một tình trạng, trong đó sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực có tinh chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [3]. Theo đó việc làm phải có yếu tố trả công trong khi sự trả công thông thƣờng chỉ đƣợc thực hiện trọng quan hệ làm công.

Tuy nhiên, nhiều trƣờng hợp không có sự trả công nhƣ các lao động cá thể có công việc và thu nhập ổn định từ công việc của mình hoặc những ngƣời chủ sử dụng lao động tạo việc làm và trả công cho ngƣời khác.nhƣng thật khó có thể nói rằng họ lại là những ngƣời ngƣời không có việc làm. Bên cạnh đó, việc giới hạn chỉ có sự tham gia vào nỗ lực sản xuất cũng làm hẹp đi phạm vi của việc làm. Ở Việt Nam, dƣới góc độ ngôn ngữ học, việc làm đƣợc hiểu là: “công việc được giao cho làm và trả công” [19]. Ngoài bất cập về dấu hiệu phải đƣợc trả công giống nhƣ quan điểm đa phân tích ở trên, quan điểm này còn đồng nhất việc làm với công việc cụ thể, đƣợc ngƣời khác giao cho làm.

Tuy nhiên, dƣới góc độ khoa học thì lại phải quân biệt: Việc làm là danh từ chung, chỉ đối tƣợng của hợp đồng lao động còn công việc thƣờng có tính cụ thể, là một trong những nội dung cơ bản của hợp đồng đó. Vì vậy, những công việc có tính liên kết với nhau theo phạm vi nghề nghiệp nhất định thì đƣợc gọi là việc làm. Những công việc đơn lẻ, rời rạc có thể cùng thực hiện một mục đích kiếm sống nhƣng không liên quan đến nhau, không trong một phạm vi nghề nghiệp thì không nên gọi là việc làm mà là những công việc hay những việc cụ thể. Khái niệm về việc làm thêm của sinh viên Theo điều 13 Bộ luật lao động thì khái niệm việc làm đƣơc định nghĩa nhƣ sau: “Những người được coi là có việc làm là những người làm việc có thu nhập, không bị pháp luật cấm” [10].

Quan niệm chính thức về việc làm đƣợc đƣa vào bộ luật lao động – văn bản có hiệu lực pháp lí cao, bƣớc đầu đã tạo cơ sở cho việc hình thành khái niệm việc làm và khái niệm việc làm thêm. Về mặt khoa học, quan điểm của bộ luật lao động đã nêu ra những yếu tố cơ bản nhất của việc làm. Từ đó nhóm nghiên cứu đã đƣa ra một số quan niệm về việc làm thêm đối với sinh viên là. Thứ nhất, Việc làm thêm đối với SV có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trƣờng tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống.

Thứ hai, Việc làm thêm chỉ đơn giản chính là các bạn SV chủ động tham gia các hoạt động xã hội ở các tổ chức trong và ngoài trƣờng để tích lũy kinh nghiệm cho bản thân. Trên đây là hai quan niệm về việc làm thêm đối với SV hiện nay, từ đó, nhóm nghiên cứu rút ra khái niệm chung về việc làm thêm nhƣ sau: Việc làm thêm đối với SV có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trƣờng tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm, không làm ảnh hƣởng nhiều đến học tập… với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống. Một số vấn đề liên quan tới việc làm thêm của sinh viên 1. Thị trƣờng lao động việc làm thêm của sinh viên đại học Thủ Dầu Một Một trong những vấn đề quan trọng trong việc làm thêm của SV là thị trƣờng lao động.

Để tìm đƣợc công việc phù hợp thì trƣớc hết phải thông qua thị trƣờng lao động, để biết thị trƣờng lao động cần gì, bản thân mình có thích hợp để tham gia lao động hay không?. Trƣớc hết, là cung lao động, là những ngƣời có khả năng và nhu cầu làm việc. Họ có thể đang làm hoặc không có việc làm song đang đi tìm việc. Nguồn lao động đƣợc hình thành từ các cơ sở đào tạo nhƣ các trƣờng đại học, cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác.

Nguồn cung này có thể đến từ những ngƣời đang đi tìm việc 10 làm, từ các doanh nghiệp, các cơ quan tổ chức và nó đƣợc bổ sung thƣờng xuyên từ đội ngũ những ngƣời đến từ độ tuổi lao động, trong đó có SV. Tính đến thời điểm tháng 10/2013 cả nƣớc ta có 69,15 triệu ngƣời từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 53,86 triệu ngƣời từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lƣợng lao động (Báo cáo điều tra lao động việc làm quý III năm 2013) và tổng số SV cả nƣớc khoảng 2,2 triệu ngƣời. Với SV đang theo học ở các trƣờng đại học cao đẳng thì việc làm thêm của họ cũng đóng góp một phần không nhỏ trong thị trƣờng lao động nƣớc ta. Thứ hai, cầu lao động đƣợc hình thành từ các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức,….hoặc từ nhu cầu lao động nhập khẩu của nƣớc ngoài.

Tính đến tháng 7/2013 nƣớc ta có 457.343 doanh nghiệp hoạt động. Với sự phát triển không ngừng của các doanh nghiệp thì nhu cầu tuyển dụng lao động ngày một tăng để đáp ứng kịp thời với sự tiến bộ của nhân loại và đó là một cơ hội dành cho ngƣời lao động nói chung và SV nói riêng. Với tỉnh Bình Dƣơng nói riêng, có 28 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp. Trong đó những khu công nghiệp tiêu biểu cho cả nƣớc về xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, về tốc độ thu hút đầu tƣ, quản lý sản xuất và bảo vệ môi trƣờng nhƣ VSIP 1, 2, Mỹ Phƣớc, Đồng An,…Bằng những chính sách phù hợp, tính đến tháng 10/2014, Bình Dƣơng đã thu hút đƣợc 2.356 dự án đầu tƣ nƣớc ngoài với số vốn là 20 tỷ 200 triệu đôla Mỹ, có trên 17.000 doanh nghiệp trong nƣớc.

Tính đến tháng 9 năm 2014, tổng số lao động tỉnh Bình Dƣơng gần 60.000 ngƣời kể cả lao động ngoại tỉnh. Và toàn tỉnh có 8 trƣờng đại học và 6 trƣờng cao đẳng hệ chính quy, tiêu biểu phải kể đến các trƣờng: Đại học Thủ Dầu Một, Đại học Bình Dƣơng, Đại học Quốc tế Miền Đông ……với số lƣợng SV đông đảo. Trong bối cảnh đất nƣớc ngày một phát triển, thì ta không thể phủ nhận vai trò cung cầu trong thị trƣờng lao động việc làm thêm đang ngày một gia tăng trƣớc sức ép của hàng loạt biến động về giá thực phẩm, xăng dầu, lạm phát v.v… trong thời gian vừa qua.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thực trạng việc làm thêm của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một năm 2015" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình việc làm thêm của sinh viên tại trường, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm thêm và những lợi ích mà công việc này mang lại cho sinh viên. Tài liệu nêu rõ rằng việc làm thêm không chỉ giúp sinh viên có thêm thu nhập mà còn phát triển kỹ năng mềm, mở rộng mối quan hệ xã hội và tăng cường kinh nghiệm thực tiễn, điều này rất quan trọng trong quá trình tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của vốn xã hội đến việc làm của sinh viên tốt nghiệp trường đại học kinh tế quốc dân, nơi phân tích vai trò của vốn xã hội trong việc tìm kiếm việc làm của sinh viên. Ngoài ra, tài liệu Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến việc làm của sinh viên trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố hồ chí minh cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức mà sinh viên phải đối mặt trong bối cảnh dịch bệnh. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn đa dạng và sâu sắc hơn về thị trường việc làm của sinh viên hiện nay.