Mở đầu (5 trang); Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về việc làm thêm của SV (10 trang), Chƣơng 2. Thực trạng việc làm thêm của SV trƣờng đại học Thủ Dầu Một (29 trang), Chƣơng 3. Đề xuất một số giải pháp (8 trang); Phần kết luận và kiến nghị (3 trang).
Trong báo cáo có 15 bảng, 17 hình, 21 tài liệu tham khảo và 01 phụ lục. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN VÀ VẤN ĐỀ LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về việc làm Theo trang thông tin điện tử và của công đoàn bƣu điện Việt Nam: Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi ngƣời vì nhờ nó con ngƣời có điều kiện tạo nhu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình và các thành viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện để con ngƣời tham gia vào các hoạt động xã hội, quan hệ xã hội, qua đó khẳng định vai trò, giá trị xã hội của mình.
Việc làm là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt, đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều góc độ khác nhau, thí dụ: “Việc làm là một quan hệ sản xuất nảy sinh do có sự kết hợp giữa cá nhân ngƣời lao động kinh tế của xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách thức kiếm sống của con ngƣời, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo khuôn khổ của quá trình kinh tế”. Điều 9, Bộ luật lao động, quy định rõ: “Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. [10] Trên thực tế việc làm nêu trên đƣợc thể hiện dƣới 3 hình thức: Một là, làm công việc để nhận tiền lƣơng, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tƣ liệu sản xuất để tiến hành công việc đó.
Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lí. Khái niệm trên nói chung là khá bao quát nhƣng chúng ta cũng thấy rõ hạn chế cơ bản. Hạn chế thứ nhất: hoạt động nôi trợ không đƣợc coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ.
Hạn chế thứ hai: khó có thể so sánh tỉ lệ ngƣời có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán,…có những nghề ở quốc gia này thì đƣợc 8 phép và đƣợc coi đó là việc làm nhƣng ở quốc gia khác lại bị cấm. ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam bị cấm nhƣng ở Thái Lan, Mĩ đó lại đƣợc coi là một nghề thậm chí là rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thƣợng lƣu. Trên thế giới, quan niệm về việc làm đƣợc đƣa ra dƣới nhiều góc độ, với những phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Tuy nhiên, trong cuộc sống, phạm vi tác động của con ngƣời vào vật chất thì rất rộng nhƣng không phải tác động nào cũng thu đƣợc lợi nhuận.
Thực tế, có những tác động của con ngƣời vào thế giới vật chất không phải là việc làm nhƣng lại có nhiều trƣờng hợp thực hiện việc làm không thu đƣợc lợi nhuận hoặc không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, quan niệm này không chỉ rõ phạm vi hợp lí của khái niệm việc làm. Cố vấn văn phòng Quốc tế Giăng Mutê đƣa ra quan điểm: “Việc làm như một tình trạng, trong đó sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực có tinh chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [3]. Theo đó việc làm phải có yếu tố trả công trong khi sự trả công thông thƣờng chỉ đƣợc thực hiện trọng quan hệ làm công.
Tuy nhiên, nhiều trƣờng hợp không có sự trả công nhƣ các lao động cá thể có công việc và thu nhập ổn định từ công việc của mình hoặc những ngƣời chủ sử dụng lao động tạo việc làm và trả công cho ngƣời khác.nhƣng thật khó có thể nói rằng họ lại là những ngƣời ngƣời không có việc làm. Bên cạnh đó, việc giới hạn chỉ có sự tham gia vào nỗ lực sản xuất cũng làm hẹp đi phạm vi của việc làm. Ở Việt Nam, dƣới góc độ ngôn ngữ học, việc làm đƣợc hiểu là: “công việc được giao cho làm và trả công” [19]. Ngoài bất cập về dấu hiệu phải đƣợc trả công giống nhƣ quan điểm đa phân tích ở trên, quan điểm này còn đồng nhất việc làm với công việc cụ thể, đƣợc ngƣời khác giao cho làm.
Tuy nhiên, dƣới góc độ khoa học thì lại phải quân biệt: Việc làm là danh từ chung, chỉ đối tƣợng của hợp đồng lao động còn công việc thƣờng có tính cụ thể, là một trong những nội dung cơ bản của hợp đồng đó. Vì vậy, những công việc có tính liên kết với nhau theo phạm vi nghề nghiệp nhất định thì đƣợc gọi là việc làm. Những công việc đơn lẻ, rời rạc có thể cùng thực hiện một mục đích kiếm sống nhƣng không liên quan đến nhau, không trong một phạm vi nghề nghiệp thì không nên gọi là việc làm mà là những công việc hay những việc cụ thể. Khái niệm về việc làm thêm của sinh viên Theo điều 13 Bộ luật lao động thì khái niệm việc làm đƣơc định nghĩa nhƣ sau: “Những người được coi là có việc làm là những người làm việc có thu nhập, không bị pháp luật cấm” [10].
Quan niệm chính thức về việc làm đƣợc đƣa vào bộ luật lao động – văn bản có hiệu lực pháp lí cao, bƣớc đầu đã tạo cơ sở cho việc hình thành khái niệm việc làm và khái niệm việc làm thêm. Về mặt khoa học, quan điểm của bộ luật lao động đã nêu ra những yếu tố cơ bản nhất của việc làm. Từ đó nhóm nghiên cứu đã đƣa ra một số quan niệm về việc làm thêm đối với sinh viên là. Thứ nhất, Việc làm thêm đối với SV có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trƣờng tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống.
Thứ hai, Việc làm thêm chỉ đơn giản chính là các bạn SV chủ động tham gia các hoạt động xã hội ở các tổ chức trong và ngoài trƣờng để tích lũy kinh nghiệm cho bản thân. Trên đây là hai quan niệm về việc làm thêm đối với SV hiện nay, từ đó, nhóm nghiên cứu rút ra khái niệm chung về việc làm thêm nhƣ sau: Việc làm thêm đối với SV có nghĩa là sự tham gia làm việc ngay khi vẫn đang học ở trƣờng tại các công ty, các tổ chức, các đơn vị, các hộ gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm, không làm ảnh hƣởng nhiều đến học tập… với mục đích có thêm thu nhập hoặc với mục tiêu học hỏi, tích lũy kinh nghiệm, cọ sát hơn với thực tế cuộc sống. Một số vấn đề liên quan tới việc làm thêm của sinh viên 1. Thị trƣờng lao động việc làm thêm của sinh viên đại học Thủ Dầu Một Một trong những vấn đề quan trọng trong việc làm thêm của SV là thị trƣờng lao động.
Để tìm đƣợc công việc phù hợp thì trƣớc hết phải thông qua thị trƣờng lao động, để biết thị trƣờng lao động cần gì, bản thân mình có thích hợp để tham gia lao động hay không?. Trƣớc hết, là cung lao động, là những ngƣời có khả năng và nhu cầu làm việc. Họ có thể đang làm hoặc không có việc làm song đang đi tìm việc. Nguồn lao động đƣợc hình thành từ các cơ sở đào tạo nhƣ các trƣờng đại học, cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác.
Nguồn cung này có thể đến từ những ngƣời đang đi tìm việc 10 làm, từ các doanh nghiệp, các cơ quan tổ chức và nó đƣợc bổ sung thƣờng xuyên từ đội ngũ những ngƣời đến từ độ tuổi lao động, trong đó có SV. Tính đến thời điểm tháng 10/2013 cả nƣớc ta có 69,15 triệu ngƣời từ 15 tuổi trở lên, trong đó có 53,86 triệu ngƣời từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lƣợng lao động (Báo cáo điều tra lao động việc làm quý III năm 2013) và tổng số SV cả nƣớc khoảng 2,2 triệu ngƣời. Với SV đang theo học ở các trƣờng đại học cao đẳng thì việc làm thêm của họ cũng đóng góp một phần không nhỏ trong thị trƣờng lao động nƣớc ta. Thứ hai, cầu lao động đƣợc hình thành từ các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức,….hoặc từ nhu cầu lao động nhập khẩu của nƣớc ngoài.
Tính đến tháng 7/2013 nƣớc ta có 457.343 doanh nghiệp hoạt động. Với sự phát triển không ngừng của các doanh nghiệp thì nhu cầu tuyển dụng lao động ngày một tăng để đáp ứng kịp thời với sự tiến bộ của nhân loại và đó là một cơ hội dành cho ngƣời lao động nói chung và SV nói riêng. Với tỉnh Bình Dƣơng nói riêng, có 28 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp. Trong đó những khu công nghiệp tiêu biểu cho cả nƣớc về xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, về tốc độ thu hút đầu tƣ, quản lý sản xuất và bảo vệ môi trƣờng nhƣ VSIP 1, 2, Mỹ Phƣớc, Đồng An,…Bằng những chính sách phù hợp, tính đến tháng 10/2014, Bình Dƣơng đã thu hút đƣợc 2.356 dự án đầu tƣ nƣớc ngoài với số vốn là 20 tỷ 200 triệu đôla Mỹ, có trên 17.000 doanh nghiệp trong nƣớc.
Tính đến tháng 9 năm 2014, tổng số lao động tỉnh Bình Dƣơng gần 60.000 ngƣời kể cả lao động ngoại tỉnh. Và toàn tỉnh có 8 trƣờng đại học và 6 trƣờng cao đẳng hệ chính quy, tiêu biểu phải kể đến các trƣờng: Đại học Thủ Dầu Một, Đại học Bình Dƣơng, Đại học Quốc tế Miền Đông ……với số lƣợng SV đông đảo. Trong bối cảnh đất nƣớc ngày một phát triển, thì ta không thể phủ nhận vai trò cung cầu trong thị trƣờng lao động việc làm thêm đang ngày một gia tăng trƣớc sức ép của hàng loạt biến động về giá thực phẩm, xăng dầu, lạm phát v.v… trong thời gian vừa qua.