ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng đƣợc ví nhƣ lá phổi xanh của trái đất bởi chúng có nhiều cây xanh, mà cây xanh trong quá trình quang hợp đã hấp thụ khí cácbonic và nhả ra khí oxy, đây là nguồn cung cấp phần lớn oxy để đảm bảo sự sống của con ngƣời và các loại sinh vật khác trên Trái đất. Ngoài cung cấp khi oxy để duy trì sự sống, cây xanh của rừng còn có tác dụng lọc sạch không khí, giữ lại bụi bẩn và tiêu diệt các vi trùng gây hại trong không khí. Mang đến một không khí trong lành hơn cho con ngƣời và các loài sinh vật khác. Ngoài ra rừng còn là nơi sinh sống của rất nhiều các loại động thực vật khác nhau, trong đó có rất nhiều loài quý hiếm.
Vì vậy, đây là nơi cung cấp nguồn thực phẩm, nguyên liệu quý hiến cho con ngƣời và đặc biệt cũng là nơi lƣu trữ của nhiều nguồn gen quý hiếm. Vai trò đặc biệt khác của rừng đối với đời sống của con ngƣời đó là rừng bảo vệ và ngăn chặn hiện tƣợng xói mòn nguy hiểm. Độ che phủ rừng những năm gần đây của nƣớc ta đã bắt đầu vƣợt ngƣỡng khuyến cáo về mặt sinh thái của thế giới, tuy nhiên rừng vẫn phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực tây nguyên, trung du phía bắc. Chủ yếu rừng tự nhiên là rừng nghèo, còn rừng giàu và rừng trung bình chỉ chiếm 4,6 % tổng diện tích rừng cả nƣớc.
Nhiều khu vực rừng ngập mặn, rừng đầu nguồn có ý nghĩa rất quan trọng để đảm bảo an toàn và duy trì đa dạng sinh học thì đều đang dần biến mất bởi thực trạng khai thác lậu quá mức, lâm tặc hoành hành rất mạnh. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng từ trƣớc tới nay chƣa hợp lý, các phong trào phát động chỉ mang tính phong trào, con ngƣời chƣa ý thức đƣợc tầm quan trọng và lợi ích của rừng. Việc quy hoạch, thiết lập các hoạch, xây dựng các giải phát quản lý và sử dụng tài nguyên rừng chỉ đƣợc thực hiện khi tài nguyên rừng đang có nguy cơ bị cạn kiệt. 1 Những năm gần đây, chính phủ đã có nhiều chủ trƣơng quan tâm đến vấn đề rừng hiện nay nhƣ thực hiện trồng rừng, cải tạo rừng, siết chặt hơn trong các công tác quản lý lâm tặc.
Tuy nhiên, dù diện tích rừng trồng đang ngày càng tăng nhƣng các hoạt động trái phép của các lâm tặc cũng ngày càng ngang nhiên và táo bạo hơn. Đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có nhiều biện pháp cứng rắn hơn để ngăn chặn tình trạng này. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI DÂN TẠI XÃ PHÚ XÁ, HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN” 2 CHƢƠNG II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về biến động rừng của Việt Nam Chuyển đổi mục sử dụng ,khai thác quá mức là nguyên nhân chính khiến rừng tự nhiên của Việt Nam giảm về diện tích.
Năm 1945 diện tích rừng Việt Nam ƣớc tính có khoảng 14.3 triệu ha rừng với tỷ lệ độ che phủ 43. Năm 1976 diện tích rừng giảm xuống 11.16 triệu ha rừng với tỷ lệ độ che phủ 33.89 triệu ha độ che phủ là 30%. Năm 1995 diện tích là 9.3 triệu ha ,độ che phủ 28. Trong thời kỳ 1945 – 1975 cả nƣớc mất khoảng 3 triệu ha rừng, bình quân 100.
Quá trình mất rừng diễn ra nhanh hơn ở giai đoạn 1975 – 1990: Mất 2.8 triệu ha, bình quân 140. Nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này đƣợc cho là do: tập quán canh tác nông nghiệp du canh du cƣ của đồng bào dân tộc thiểu số; mở rộng sản xuất nông nghiệp gắn liền với thực hiện di dân, tái định cƣ sau giải phóng; khai thác gỗ thiếu bền vững tại các lâm trƣờng quốc doanh, kể cả khai thác gỗ bất hợp pháp; thu hái lâm sản phục vụ cuộc sống, nhƣ củi đun; và rừng bị tàn phá trên quy mô lớn bởi chiến tranh. Tuy nhiên từ nhừng năm 1900 - 1995 do công tác trồng rừng đƣợc đẩy mạnh đã phần nào làm cho diện tích rừng tăng lên. Năm 2005 diện tích rừng là 12.7 triệu ha với tỷ lệ che phủ là 36.Năm 2010 diện tích rừng là 13.3 triệu ha với độ che phủ là 39.
Năm 2015 diện tích rừng là 14.6 triệu ha với độ che phủ rừng 40.3 triệu ha độ che phủ là 41.4 triệu ha độ che phủ là 41.4 triệu ha độ che phủ là 41. Diện tích rừng tăng thuần trong giai đoạn này nhờ vai trò rất quan trọng của các chính sách cải cách quản lý đất đai sau Đổi mới nhƣ: Nghị quyết của Đảng về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi Khoán 10, năm 1998); các chƣơng trình dự án trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, giao đất giao rừng nhƣ: Chƣơng trình 327[1], Nghị định 02/1994[2] hay Nghị định 3 01/1995[3] về giao đất giao rừng, Chƣơng trình 661[4] trồng mới 5 triệu ha rừng; cũng nhƣ sự gia tăng lớn về nhu cầu gỗ nguyên liệu cho các ngành kinh tế và xuất khẩu. Trồng rừng, tái sinh rừng tự nhiên đã nâng tổng diện tích rừng toàn quốc lên khoảng 13.3 triệu ha năm 2010 so với 9. Đến năm 2015 độ che phủ rừng toàn quốc đạt 40.
Theo Lambin & Meyfroidt (2010), sự gia tăng diện tích rừng ở Việt Nam trong giai đoạn này còn do những thay đổi và tác động bởi năng suất sản xuất nông nghiệp tăng nhanh, xu hƣớng chuyển dịch sản xuất nông nghiệp định canh định cƣ… Có thể thấy độ che phủ rừng của Việt Nam tăng lên (gần bằng mức năm 1943) chủ yếu nhờ trồng rừng và tái sinh tự nhiên trong khi vẫn bị thách thức bởi tình trạng suy thoái rừng do khai thác gỗ, củi, hợp pháp hoặc trái phép đang diễn ra ở nhiều nơi. Số liệu mới nhất của Bộ NN&PTNT (2016) cho thấy tại khu vực Tây Nguyên tỷ lệ rừng giàu chỉ còn 10.4%; rừng trung bình 22.7%; và còn lại gần 67% là rừng nghèo kiệt. Theo đánh giá của Phạm và cộng sự (2012), trữ lƣợng các-bon của rừng tự nhiên cao gấp 5-10 lần so với rừng trồng, do đó, nếu chỉ tăng về diện tích thì Việt Nam khó có thể đảm bảo đƣợc cam kết giảm phát thải nhà kính cũng nhƣ khả năng đƣợc hƣởng lợi lâu dài từ REDD+ ( theo nghĩa đơn giản: Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng”.) ( REDD+ là một sáng kiến quốc tế, cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nƣớc đang phát triển nhằm giảm phát thải khí nhà kính gây nên biến đổi khí hậu, thông qua 5 hoạt động chính: Hạn chế mất rừng; Hạn chế suy thoái rừng; Bảo tồn trữ lƣợng các bon rừng; Quản lý bền vững tài nguyên rừng; Tăng cƣờng trữ lƣợng các bon rừng.) cùng thị trƣờng các-bon trong tƣơng lai. Hiện tại, độ che phủ rừng hàng năm ở Việt Nam vẫn tăng thuần nhƣng tốc độ tăng đã chậm lại so với thập kỷ trƣớc.
Theo Nghị quyết 73/NQ-CP ngày 26/08/2016 của Chính phủ, dự kiến mục tiêu độ che phủ rừng toàn quốc sẽ đạt 42%; diện tích rừng đạt 14.4 triệu ha vào năm 2020. Tổng quan về việc quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới Trên thực tế, nhiều khu rừng, miền rừng, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, vẫn còn thiếu sự quản lý bền vững. Bên cạnh đó, một số quốc gia vẫn còn thiếu các chính sách về lâm nghiệp, khung thể chế, luật pháp và các biện pháp khuyến khích để thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Trong khi một số quốc gia khác lại thiếu kinh phí và năng lực kỹ thuật về quản lý rừng.
Tại châu Âu, Phần Lan là quốc gia có diện tích rừng che phủ lớn nhất 86% diện tích đất là rừng, theo Hiệp hội Rừng Phần Lan. Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quốc gia này bởi nó cung cấp gỗ, thực phẩm (nấm, các loại quả) và không khí trong lành. Đồng thời rừng là nhà của nhiều loại thực vật, động vật, côn trùng, vi sinh vật.Ngƣời dân Phần Lan đặc biệt quan tâm đến vấn đề quản lý rừng bền vững vì tầm quan trọng và sự cần thiết của rừng trong cuộc sống của họ. Vào thế kỷ 19, Đạo luật Rừng đầu tiên đã đƣợc Chính phủ Phần Lan thông qua vào năm 1886, trong đó có điều luật cấm phá rừng.Việc sử dụng gỗ từ các nguồn đƣợc chứng nhận giúp các công ty đảm bảo rằng tất cả gỗ đều đƣợc khai thác một cách hợp pháp và có thể truy nguyên lại môi trƣờng tự nhiên của chúng, ngăn chặn việc xuất - nhập gỗ, bột giấy bất hợp pháp.
Một quốc gia châu Âu khác có độ phủ xanh xếp thứ 15 thế giới đó là Thụy Điển (69.2% diện tích đất là rừng). Ở Thụy Điển, tính bền vững đƣợc xác định trên các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, sinh học và tính bền vững đƣợc tuyên bố là nền tảng phát triển lâm nghiệp của quốc gia này.Sự bền vững về kinh tế có nghĩa là sản xuất gỗ lâu dài có lợi nhuận đủ để đảm bảo cho các hoạt động lâm nghiệp và công tác quản lý. Sự bền vững xã hội bao gồm các vấn đề nhƣ dân số địa phƣơng, quyền lợi của ngƣời lao động, các vấn đề liên quan đến giải trí, các cơ hội cho ngƣời dân ở cả địa phƣơng và toàn quốc để tồn tại lâu dài dựa vào lâm nghiệp. Tính bền vững sinh học đề cập đến năng lực sản xuất lâu dài của đất đai, việc bảo tồn các quá trình sinh thái tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học.Tại Thụy Điển, việc quản lý rừng bền vững phải tuân thủ các quy định pháp luật.
Tất cả các khu rừng sau khi thu hoạch phải đƣợc tái sinh, trồng rừng mới theo kế 5 hoạch. Ngoài Luật về lâm nghiệp, Thụy Điển cũng áp dụng hệ thống các chứng nhận quốc tế tự nguyện FSC và PEFC. Khoảng 2/3 diện tích đất lâm nghiệp của Thụy Điển đã đƣợc chứng nhận theo các quy tắc này.Chính phủ Thụy Điển luôn đánh giá cao tầm quan trọng của nguồn tài nguyên vô hạn là rừng, khi đƣợc quản lý đúng cách. Trong quá trình phát triển, cây xanh hấp thụ CO2 từ khí quyển.
Trong suốt vòng đời, các sản phẩm gỗ tiếp tục hấp thụ và cô lập CO2. Trong một năm điển hình, sự kết hợp giữ việc thu hoạch rừng của Thụy Điển và tổng lƣợng CO2 hấp thu đã vƣợt hơn lƣợng phát thải CO2 từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong vận tải.