ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những bệnh không truyền nhiễm, đái tháo đường là một bệnh nội tiết chuyển hóa thường gặp nhất và phổ biến nhất trên toàn cầu, là một trong 10 nguyên nhân gây ra gánh nặng tàn tật và tử vong lớn nhất trên toàn cầu. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF), năm 2013, trên thế giới có 382 triệu người mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), năm 2015 là 415 triệu người tương đương cứ 11 người có 1 người bị đái tháo đường, đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu người bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) [7], [25]. Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu dịch tễ học bệnh ĐTĐ toàn quốc năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ tại Việt Nam là 5,42% ở người trưởng thành, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ tăng dần theo nhóm tuổi, cụ thể là 1,7% ở nhóm từ 30-39 tuổi; 3,7% ở nhóm từ 40-49 tuổi; 7,5% ở nhóm từ 50-59 tuổi và 9,9% ở nhóm từ 60-69 tuổi. Theo kết quả điều tra, năm 2015 ở nhóm tuổi từ 18-69, tỷ lệ đái tháo đường là 4,1%, tiền đái tháo đường là 3,6%.
Ngay cả với những người đã được chẩn đoán, việc điều trị bệnh ĐTĐ chưa phải là tối ưu và đa số không đạt được mục tiêu điều trị [7], [25]. Bệnh đái tháo đường nếu không được điều trị đúng sẽ dẫn đến các biến chứng như: biến chứng về mắt, biến chứng thận đặc biệt biến chứng tim mạch. Để kiểm soát đường huyết và đạt mục tiêu điều trị cho người bệnh thì việc tuân thủ điều trị là đặc biệt quan trọng. Nếu người bệnh ĐTĐ không tuân thủ điều trị không những sẽ gây ra các biến chứng như đã nêu ở trên mà còn tốn kém về kinh tế, giảm chất lượng cuộc sống, tàn tật nặng nề và có thể tử vong[2].
Trung tâm Y tế huyện Tam Dương trực thuộc Sở Y tế Vĩnh Phúc là đơn vị y tế hạng III, với quy mô 253 giường bệnh, đầy đủ các chuyên khoa, buồng khám nội tiết trực thuộc khoa khám bệnh của Trung tâm Y tế huyện Tam Dương, hiện nay đang quản lý gần 800 người bệnh đái tháo đường [23], đây là số lượng người được quản lý và điều trị ngoại trú tương đối lớn so với quy mô tại buồng khám của một Trung tâm Y tế huyện trung du miền núi với dân số khoảng 100 nghìn dân. Số lượng người mắc bệnh ngày càng tăng và phân bố rộng khắp các xã thị trấn trong huyện. Trong khi đó buồng khám Nội tiết chỉ có một Bác sĩ và 2 Điều dưỡng. Trung 2 tâm chưa có phòng truyền thông giáo dục sức khỏe để hỗ trợ, chính vì vậy việc giám sát về tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại buồng khám nội tiết còn nhiều khó khăn.
Kết quả đánh giá nhanh cho thấy đa phần người bệnh chưa tuân thủ điều trị về thuốc, về chế độ ăn, hoạt động thể lực và theo dõi đường huyế, nhiều bệnh nhân vào điều trị nội trú với nhiều bệnh khác nhau nhưng đều có tiền sử đái tháo đường type 2, có nhiều bệnh nhân không hiểu rõ về bệnh đái tháo đường hoặc hiểu về bệnh rất lơ mơ không rõ ràng. Theo báo cáo của phòng Kế hoạch Điều dưỡng của Trung tâm Y tế thì trong năm 2017-2018 số bệnh nhân mắc ĐTĐ có biến chứng nặng phải chuyển viện nhiều mà nguyên nhân đa phần là do không tuân thủ điều trị.Vìnhững lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Tam Dương-tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.Mô tả thực trạngtuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Tam Dương-tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019.Phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 hiện đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Tam Dương-tỉnh Vĩnh Phúc năm 2019. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu + Định nghĩa bệnh đái tháo đường: Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [5]. + Khái niệm về tuân thủ điều trị: Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm tuân thủ điều trị của Bộ Y tế tại Quyết định số 3319/2017/QĐ-BYT ngày 19/7/2017 về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đóa, điều trị type 2 bao gồm đánh giá từng khía cạnh tuân thủ: (1) Tuân thủ chế độ ăn (2) Tuân thủ hoạt động thể lực (3) Tuân thủ điều trị dùng thuốc (4) Tuân thủ điều trị khám định định kỳ và theo dõi đường huyết, gồm: [5]. - Tuân thủ chế độ ăn: Ăn đúng giờ, không bỏ bữa, ăn chậm nhai kỹ, không ăn quá nhiều trong một bữa, thực hiện ăn đủ 3 bữa trong ngày (sáng, trưa, chiều) hạn chế các thực phẩm chứa đường, mỡ đặc biệt là các thực phẩm chứa nhiều cholesterron và các chất béo bão hòa, các đồ ăn nhanh, thực phẩm nhiều chất béo đã qua chế biến, ngừng uống rượu, bia., các thực phẩm không nên ăn: Thịt nguội, xúc xích, giăm bông, gà tây, thịt bò khô, thịt heo xông khói, các loại hạt tẩm gia vị….Các thực phẩm nên ăn cá hồi, cá trích, cá ngừ, gà ta không da, các loại đậu và cây họ đậu, sữa chua tách béo không đường, hạt tươi không muối, trứng, đậu phụ…Uống rượu, bia điều độ (uống một non bia 330ml/ngày, rượu vang đỏ khoảng 150-200ml/ngày), ngưng hút thuốc lá.
Các trường hợp không thực hiện chế độ ăn theo chỉ dẫn của cán bộ y tế được coi là không tuân thủ chế độ ăn. - Tuân thủ hoạt động thể lực: Người bệnh thực hiện chế độ tập luyện theo hướng dẫn của cán bộ y tế, đi bộ 30 phút mỗi ngày, tối thiểu 150 phút/tuần không nên ngừng luyện tập 2 ngày liên tiếp, hoạt động thể lực trung bình bằng cách đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc các bài tập thể dục tương tự, phù hợp với tình trạng sức khỏe, thể lực và lối sống của người bệnh.Hoạt động thể lực trung bình bằng cách đi bộ nhanh, đạp xe 5 đạp hoặc các bài tập tương tự phù hợp với tình trạng sức khỏe, thể lực và lối sống của người bệnh. Người già, mắc bệnh đau khớp có thể chia tập nhiều lần trong ngày như đi bộ sau 3 bữa ăn mỗi lần 15 phút. Hoạt động thể lực có hiệu quả sẽ tạo cho những người bệnh đái tháo đường điều chỉnh glucose huyết, giảm tình trạng kháng Insulin, đặc biệt là các trường hợp thừa cân béo phì.
Các trường hợp tàn tật vận động tại chỗ tối thiểu mỗi ngày khoảng 30 phút. - Tuân thủ điều trị dùng thuốc: Người bệnh phải dùng thuốc đúng liều, đúng giờ, đều đặn theo chỉ dẫn của bác sĩ, các trường hợp bỏ thuốc, dùng thuốc không theo chỉ dẫn của bác sĩ được coi là không tuân thủ dùng thuốc. - Tuân thủ khám định kỳ và kiểm soát đường huyết: Bệnh nhân thực hiện khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ 1 tháng/lần và thực hiện kiểm tra đường huyết 1 tháng/lần tại cơ sở khám bệnh chữa bệnh. - Tuân thủ điều trị chung gồm: (1) Không tuân thủ chế độ nào, (2) Tuân thủ 1 chế độ, (3) Tuân thủ 2 chế độ, (4)Tuân thủ 3 chế độ, (5) Tuân thủ 4 chế độ + Định nghĩa hoạt động thể lực: Hoạt động thể lực là bất kể một hoạt động nào sử dụng hệ cơ.
Với những người có cuộc sống tĩnh tại, hoạt động thể lực nhẹ bao gồm đứng, đi vòng quanh cơ quan hay nhà, đi mua sắm hay chuẩn bị thức ăn. Thời gian nghỉ ngơi, con người có thể thực hiện các hoạt động thể lực nhẹ, trung bình, nặng phụ thuộc vào bản chất và cường độ hoạt động cũng như sở thích cá nhân. Hầu hết những người có cuộc sống năng động thường hoạt động thể lực ở mức trung bình hay nặng ở nơi làm việc hoặc ở nhà và qua các hoạt động đi lại. Ngồi, đứng và các hoạt động thể lực nhẹ thực chất là các công việc thường ngày, có ở tất cả các dạng hoạt động thể lực [22].
Nguyên tắc điều trị bệnh đái tháo đường type 2 1. Triệu chứng [19] - Ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy sút cân. - Những dấu hiệu ngoài da: ngứa là triệu chứng hay gặp, có thể ngứa toàn than hoặc bộ phận sinh dục. - Triệu chứng về mắt: Giảm thị lực có thể gây mù lòa.
- Triệu chứng về tiêu hóa: Đi ngoài phân lỏng, đau bụng. 6 - Rối loạn chức năng gan: Gan to ra lâu ngày dẫn đến suy chức năng gan. - Triệu chứng về hô hấp: Lao phổi, viêm phổi, áp xe phổi - Tim mạch: Nhức đầu, lú lẫn, thoáng quyên, đau ngực đau khi gắng sức hoặc cơn đau dữ dội điển hình đau như dao đâm, đau thắt bóp lấy ngực như trong nhồi máu cơ tim. - Biểu hiện ở chi dưới: hẹp hoặc tắc động mạch chi dưới.
- Triệu chứng về thận-tiết niệu: Đái buốt, phù, đái nhiều, xét nghiệm albumin niệu từ 30-300mg/lit. Protein niệu>300mg/lit, protein niệu rất cao, tăng cholesterol. Nếu nặng có thể dẫn đến suy thận. - Triệu chứng cận lâm sàng: đường huyết tăng cao, Protein niệu, HbA1c tăng cao, 1.2 Biến chứng [19] Biến chứng cấp - Hạ glucose máu.
Biến chứng mạn - Tim mạch: - Mắt: - Thận: - Bệnh lý bàn chân ĐTĐ. Chẩn đoán bệnh đái tháo đường type 2 [5] Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường của Trung tâm Y tế huyện Tam Dương ápdụng theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 ban hành kèm theoQuyết định số 3319/QĐ-BYT ngày 19/7/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2, gồm: a). Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7mmol/L). Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đunsôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ).
b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥200 mg/dl (hay 11,1mmol/L). 7 Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫncủa Tổ chức Y tế thế giới.