Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Đại cương về Thông tiểu: 1.Khái niệm: Thông tiểu, dẫn lưu nước tiểu, rửa bàng quang là đưa qua niệu đạo vào bàng quang của bệnh nhân một ống thông để dẫn nước tiểu ra ngoài. Nhằm mục đích chẩn đoán, điều trị bệnh ở bàng quang, bệnh hệ tiết niệu. Sau đây là một số kiến thức biết về hệ tiết niệu, giúp nắm chắc sinh lý cũng như bệnh khi nào cần đặt ống thông tiểu[5].
Hệ tiết niệu bao gồm: 2 thận, 2 niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Thận là cơ quan sản xuất nước tiểu để bài xuất các chất thải của chuyển hóa, đào thải chất độc, giữ vững hằng định nội mô (cân bằng nước, điện giải và kiềm toan). Còn niệu quản, bàng quang, niệu đạo chỉ đóng vai trò dẫn, tích trữ và bài xuất nước tiểu ra ngoài. Tuổi tác còn làm ảnh hưởng đến việc đi tiểu, số lượng nước tiểu trung bình trong 24 giờ: < 2 tuổi: 500 – 600 ml/ ngày.
2-5 tuổi: 500 – 800 ml/ngày. 5-8 tuổi: 600 – 1200 ml/ngày. 8-14 tuổi: 1000 – 1500 ml/ngày. >14 tuổi: 1500 ml/ngày.
3 Hình ảnh viêm đường tiết niệu cấp tính Một số định nghĩa về sự bài tiết bất thường qua đường niệu - Vô niệu: khi nước tiểu <10 ml/giờ (<100 ml/24giờ). - Thiểu niệu: khi nước tiểu <30 ml/giờ (<500 ml/24giờ). - Đa niệu: khi nước tiểu >2500ml 3000 ml/24giờ. - Tiểu rát buốt: do bị viêm nhiễm, chấn thương.
Mắc tiểu không nín được: do cơ vòng bàng quang bị giãn, bị kích thích do viêm, hoặc do yếu tố thần kinh. - Tiểu nhiều lần trong ngày: do bàng quang bị chèn ép (có thai), tăng cung lượng tim, dùng thuốc lợi tiểu, hoặc do viêm bàng quang. - Tiểu rặn: phải cố gắng mới tiểu được: u xơ tiền liệt tuyến, chít hẹp niệu đạo. - Tiểu đêm: dùng các chất kích thích trước khi ngủ (rượu, cà phê), ở người khó ngủ (người già) hoặc một số bệnh lý về thận, huyết áp.
Tiểu máu: nước tiểu màu đỏ, thực hiện nghiệm pháp 3 ly để đánh giá sự xuất huyết ở niệu đạo, bàng quang hay thận: u ở thận, bàng quang bệnh lý ở tiểu cầu thận, sỏi đường niệu. - Bí tiểu: là sự giữ nước tiểu ở bàng quang, không tiểu được theo ý muốn do tắc nghẽn đường niệu (u xơ tuyến tiền liệt, chấn thương niệu đạo), do viêm bàng quang, giảm hoạt động của thần kinh cảm giác, do tác dụng phụ của thuốc (thuốc mê, thuốc giảm đau) hoặc do sự lo lắng của người bệnh. Các dấu hiệu chính của bí tiểu cấp là không có nước tiểu trong nhiều giờ và bàng quang căng cứng. Những người 4 bệnh đang chịu ảnh hưởng của thuốc mê và thuốc giảm đau có thể chỉ cảm thấy tức vùng hạ vị, nhưng những người bệnh tỉnh táo có thể thấy đau rất nhiều khi bàng quang căng.
Khi bí tiểu dữ dội bàng quang có thể chứa khoảng 2000ml–3000ml nước tiểu. Sự ứ đọng nước tiểu trong bàng quang làm kiềm hoá nước tiểu và là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển[6]. Số lượng nước tiểu ít, sậm màu. Nguyên nhân: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự bài tiết nước tiểu Thông thường, khi bàng quang chứa khoảng từ 250 - 350 ml nước tiểu thì sẽ kích thích gây buồn tiểu và đi tiểu.
Lượng nước tiểu đủ để gây kích thích ở mỗi người có thể khác nhau. Ở người bị bí tiểu, nước tiểu ở trong bàng quang đã đạt mức nhất định nhưng lại không thể đi tiểu được. Có rất nhiều nguyên nhân gây bí tiểu. Nếu thành bàng quang co bóp không đủ mạnh có thể là do mất liên hệ với hệ thần kinh điều khiển tiểu tiện.
Nguyên nhân gây mất liên lạc như: chấn thương cột sống, chấn thương vỡ xương chậu, các bệnh lý bàng quang (viêm bàng quang, sỏi bàng quang, túi thừa bàng quang, thành bàng quang bị chai xơ, xơ cứng cổ bàng quang. Trong nhiều trường hợp bệnh nhân bị sỏi bàng quang có sỏi di chuyển đến lỗ thông bàng quang với niệu đạo và bịt kín lỗ này lại khiến dòng chảy của nước tiểu bị cản trở và tắc nghẽn. Tình trạng viêm niệu đạo mãn tính dẫn đến xơ hóa, chít hẹp niệu đạo do viêm nhiễm, vi khuẩn, xơ cứng niệu đạo. cũng có thể gây ra bệnh bí tiểu.
Ngoài ra, nguyên nhân bí tiểu ở nam giới còn có thể do các bệnh tiền liệt tuyến gây chèn ép cổ bàng quang. Ví dụ: viêm tiền liệt tuyến, u. Ở nữ giới, bí tiểu còn có thể do các bệnh ở tiểu khung đè nén bàng quang. Ví dụ: u nang buồng trứng, u xơ tử cung.
Và những người tai biến mạch máu não nằm lâu [9] Bệnh lý về thần kinh hay chấn thương tủy sống Nhiều trường hợp có thể tổn thương thần kinh và đường dẫn truyền thần kinh. Một vài nguyên nhân thường thấy nhất là : + Âm đạo lúc sinh nở + Tổn thương não hay tủy sống + Tiểu đường 5 + Đột quỵ + Tai nạn gây tổn thương não hay tủy sống + Đa xơ cứng + Ngộ độc kim loại nặng + Tổn thương vùng chậu hoặc chấn thương Bên cạnh đó, một số trẻ sinh ra có các vấn đề về thần kinh làm bàng quang để nước tiểu thoát ra. Hình số 1: Rối loạn cơ tròn Một số trường hợp bí tiểu tạm thời do tâm lý như: ngồi quá lâu, đi tàu xe chật Nếu không được thông tiểu kịp thời hoặc bí tiểu tái đi tái lại nhiều lần gây ứ đọng nước tiểu có thể dẫn đến viêm nhiễm bàng quang. Nước tiểu viêm nhiễm ngược dòng có thể gây viêm thận, suy thận.
Do đó, người bệnh cần đi khám và điều trị dứt điểm càng sớm càng tốt. Cơ chế bệnh sinh Đường tiết niệu bao gồm các cơ quan, ống dẫn, các cơ cùng làm việc để tạo ra, vận chuyển, dự trữ và bài xuất nước tiểu. Đường tiểu trên gồm có thận, có chức năng lọc các chất thải và thêm vào dịch từ máu, và niệu quản, dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Đường tiểu dưới bao gồm bàng quang, một khối cơ có hình giống quả bong để trữ nước tiểu, và niệu đạo, một ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài cơ thể khi đi tiểu.
Nếu hệ thống tiết niệu bình thường khỏe mạnh, nước tiểu một cách bình thường trong vòng 2 đến 5 giờ. 6 Các cơ vòng làm đóng các ống dẫn nước tiểu từ bàng quang giúp giữ nước tiểu không bị rỉ ra. Các cơ vòng siết chặt lại như các sợi dây cao su quanh lỗ mở của bàng quang, chỗ dẫn vào niệu đạo. Các thần kinh ở bàng quang báo cho ta biết khi nào cần phải đi tiểu.
Khi bàng quang chứa đầy nước tiểu, ta thấy có cảm giác muốn đi tiểu. Cảm giác mắc tiểu càng lúc nhiều hơn khi bàng quang tiếp tục được làm đầy. Đến khi đạt tới giới hạn, thì các dây thần kinh từ bàng quang sẽ gửi các tín hiệu đến não báo rằng bàng quang đã đầy nước tiểu và cần làm trống bàng quang ngay. Khi bạn đi tiểu, não ra hiệu cho các cơ bàng quang giãn ra, tống nước tiểu ra khỏi bàng quang.
Cùng lúc đó, não ra lệnh cho các cơ vòng giãn ra. Khi các cơ này đều giãn, nước tiểu thoát ra khỏi bàng quang qua niệu đạo. Khi các tín hiệu xuất hiện đúng lúc, thì việc đi tiểu bình thường xảy ra. Bí tiểu là tình trạng bàng quang chứa đầy nước tiểu nhưng không đi tiểu được hoặc đi tiểu nhưng bàng quang không rỗng hoàn toàn và người bệnh thường xuyên cảm thấy muốn đi tiểu.
Bí tiểu chủ yếu gặp ở người lớn, bao gồm cả nam và nữ, trong đó tỷ lệ nam giới mắc bệnh cao hơn gấp 10 lần so với phụ nữ, nhất là nam giới trong độ tuổi từ 40 - 80 tuổi[7]. Bí tiểu được chia làm 2 loại, bao gồm: Bí tiểu mãn tính: bí tiểu diễn ra trong một thời gian dài. Người bệnh đi tiểu được nhưng bàng quang không hết nước tiểu. Bí tiểu mãn tính không có biểu hiện rõ ràng trong thời kỳ ban đầu, nhiều người bệnh không để ý sẽ không phát hiện tình trạng bất thường.
Bí tiểu mãn tính có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm. Bí tiểu cấp tính: tình trạng bí tiểu diễn ra đột ngột. Người bệnh muốn đi tiểu nhưng không thể đi được. Bí tiểu cấp tính gây tức bụng, đau bụng dưới.
Người bệnh không được giải phóng nước tiểu kéo dài có thể ảnh hưởng tới tính mạng, cần đến bệnh viện cấp cứu càng sớm càng tốt. Phân loại mức độ bí tiểu Có nhiều cách phân loại khác nhau: bí tiểu theo quãng thời gian biểu hiện triệu chứng, theo truyền thống dựa trên các triệu chứng lâm sàng, theo sinh lý bệnh bí tiểu cấp tính rất khó chịu, thậm chí là đau. Bệnh nhân có thể cảm thấy mắc tiểu nhưng không thể đi được. Phần bụng dưới thì bị căng phồng lên.
Bí tiểu mạn tính, so với cấp tính, thì khó chịu ít hơn nhưng liên tục. Bệnh nhân sẽ cảm thấy khó khăn khi bắt đầu đi tiểu. Lúc bắt đầu đi, dòng chảy nước tiểu yếu. Bệnh nhân có thể muốn đi tiểu nhiều lần, nhưng khi đi xong, vẫn còn cảm thấy mắc tiểu.
Bệnh nhân có thể tiểu nhỏ giọt trong lúc đi đến toa-lét do bàng quang luôn đầy nước tiểu, trường hợp này được gọi là tiểu không tự chủ. Bảng cho điểm triệu chứng học chủ quan của hội chứng rối loạn tiểu tiện do u phì đại lành tính tuyến tiền liệt Dựa theo thang điểm của Hội Tiết niệu Mỹ (1991), sau đó được Tổ chức. Y tế Thế giới (1993) công nhận, gọi là thang điểm IPSS (International Prostatic Symptom Score). Thang điểm IPSS dựa trên 7 triệu chứng, mỗi triệu chứng có từ 0 - 5 điểm, tổng điểm của 7 triệu chứng từ 0 - 35 điểm[8].
Dựa vào thang điểm, người ta chia rối loạn tiểu tiện làm 3 mức độ: < 7 điểm: rối loạn tiểu tiện mức độ nhẹ. 8 - 19 điểm: rối loạn tiểu tiện mức độ trung bình. > 20 điểm: rối loạn tiểu tiện mức độ nặng. Ngoài ra, Tổ chức Y tế Thế giới (1991) đề nghị đánh giá ảnh hưởng rối loạn tiểu tiện của u phì đại lành tính tuyến tiền liệt đến cuộc sống bằng chỉ số chất lượng cuộc sống.
8 Không Không thể chịu Thỏa Tạm QOL Rất tốt Tốt thỏa Bất hạnh đựng Mãn được mãn được Nếu phải sống mãi với triệu chứng 0 1 2 3 4 5 6 này ông hay (bà) nghĩ sao Tổng điểm đạt từ 0- 6 Điểm đánh giá chất lượng cuộc sống chia 3 mức độ: 1 - 2: mức độ nhẹ. 3 - 4: mức độ trung bình. Nghĩ đến bí tiểu khi có triệu chứng sau: - Đau tức bụng dưới, bàng quang, vùng trước xương mu. - Khó chịu kéo dài, bứt rứt.