ĐẶT VẤN ĐỀ Thừa cân, béo phì (TCBP) đang gia tăng, không những ở ngƣời lớn mà cả ở trẻ em và đã trở thành đại dịch toàn cầu “global pandemic”, sau AIDS, ung thƣ, với khoảng 1 tỉ ngƣời thừa cân, trong đó có khoảng 300 triệu ngƣời béo phì. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), năm 2003 có khoảng 17,6 triệu trẻ em dƣới 5 tuổi bị TCBP thì đến năm 2010 con số đó đã lên tới 43 triệu trẻ (trong đó có 35 triệu trẻ ở các nƣớc đang phát triển), nếu bệnh này không suy giảm thì đến năm 2020 sẽ có gần 60 triệu trẻ em bị TCBP [80]. Việt Nam là nƣớc đang phát triển, tỉ lệ TCBP đang gia tăng. Theo Viện Dinh dƣỡng Quốc gia (2000 và 2010), tỉ lệ TCBP ở trẻ dƣới 5 tuổi tăng từ 2,5% lên 5,6%, trong đó khu vực thành thị tăng từ 0,86% lên 6,5% và khu vực nông thôn từ 0,5% lên 4,2% [45].
Thừa cân béo phì là mối đe dọa nghiêm trọng, ảnh hƣởng lâu dài đến sức khỏe và tuổi thọ vì TCBP có nguy cơ cao mắc các bệnh mạn tính nhƣ ĐTĐ týp 2, bệnh tim mạch, rối loạn lipid máu. Mỗi năm trên toàn cầu có khoảng 2,8 triệu ngƣời chết vì TCBP. Thừa cân, béo phì điều trị khó khăn, tốn kém và hầu nhƣ không có kết quả nhƣng có thể phòng ngừa đƣợc. Do đó phòng ngừa đƣợc TCBP ở trẻ em sẽ góp phần làm giảm tỉ lệ TCBP ở ngƣời lớn, giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây có liên quan đến béo phì và giảm chi phí y tế [81].
“ Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”, vì vậy việc chăm sóc sức khỏe trẻ em không chỉ là mối quan tâm của từng gia đình mà là mối quan tâm của toàn xã hội để có một thế hệ có thể chất và trí tuệ tốt. Tuổi học đƣờng là giai đoạn rất quan trọng, trẻ tăng trƣởng nhanh về thể lực, phát triển giới tính, trƣởng thành về tâm lý xã hội và hình thành nhân cách, giai đoạn học sinh tiểu học là giai đoạn quan trọng để tích lũy các chất dinh dƣỡng cho phát triển thể lực nhanh ở giai đoạn vị thành niên sau này, khoảng 75% các trƣờng hợp TCBP ở trẻ em tồn tại đến khi trƣởng thành. Do đó nghiên cứu về TCBP ở trẻ 2 em lứa tuổi tiểu học rất cần thiết và có ý nghĩa với tƣơng lai của trẻ sau này [11], [20]. Bắc Ninh là thành phố có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển rất nhanh nên đã ảnh hƣởng rất lớn đến lối sống và thói quen ăn uống của ngƣời dân, trong đó trẻ em tuổi học đƣờng là đối tƣợng rất dễ bị ảnh hƣởng bởi các thay đổi trong xã hội.
Sự du nhập thói quen sinh hoạt, ăn uống với nhiều loại thức ăn nhanh và giàu năng lƣợng, ít hoạt động thể lực đã dẫn đến tăng tỉ lệ TCBP. Vậy câu hỏi đặt ra là tỉ lệ TCBP ở học sinh tiểu học thành phố Bắc Ninh là bao nhiêu, ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến sức khỏe, học tập của trẻ, có gì khác khác biệt với các thành phố khác nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên…. Để có dữ liệu khoa học đề xuất các giải pháp giảm bớt gánh nặng cho y tế và xã hội, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và ảnh hưởng của thừa cân, béo phì ở trẻ 6-11 tuổi tại thành phố Bắc Ninh” với hai mục tiêu: 1. Xác định tỉ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 6-11 tuổi tại một số trường tiểu học thành phố Bắc Ninh năm 2014.
Phân tích ảnh hưởng của thừa cân, béo phì đến sức khỏe và học tập của trẻ 6-11 tuổi tại một số trường tiểu học thành phố Bắc Ninh. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Định nghĩa, phân loại 1. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) thừa cân là tình trạng cân nặng cơ thể vƣợt quá cân nặng "nên có" so với chiều cao.
Béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thƣờng một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hƣởng xấu đến sức khoẻ [77]. Cách đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em Trong nghiên cứu cộng đồng ngƣời ta thƣờng sử dụng các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao, bề dày lớp mỡ dƣới da để đánh giá tình trạng TCBP. - Trƣớc đây dựa trên quần thể tham chiếu, Tổ chức Y tế thế giới năm 2005 [76], đƣa ra cách đánh giá thừa cân, béo phì ở trẻ em nhƣ sau: + Đối với trẻ dƣới 5 tuổi và trẻ từ 5 - 9 tuổi: Thừa cân: Cân nặng/Chiều cao > +2SD Béo phì: Cân nặng/Chiều cao > +2SD và bề dày lớp mỡ dƣới da cơ tam đầu, dƣới xƣơng bả vai đều 90th percentile. + Đối với trẻ 10 - 19 tuổi: Dùng chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới để đánh giá tình trạng dinh dƣỡng cho lứa tuổi này.
Cân nặng (kg) BMI = (Chiều cao)2 (m) Thừa cân: BMI 85th percentile Béo phì: BMI 95th percentile hoặc BMI 85th percentile và bề dày lớp mỡ dƣới da cơ tam đầu, dƣới xƣơng bả vai đều 90th percentile. - Từ khi chuẩn tăng trƣởng mới của TCYTTG đƣợc áp dụng, tình trạng dinh dƣỡng ở lứa tuổi 2 - 20 tuổi đƣợc đánh giá dựa trên chỉ số BMI theo tuổi. Theo TCYTTG năm 2007 [78], thừa cân béo phì đƣợc đánh giá nhƣ sau: Thừa cân khi BMI từ 85th đến 95 percentile. Béo phì khi BMI 95th percentile.
Đánh giá BMI theo tuổi ở trẻ nam 2 - 20 tuổi 5 Biểu đồ 1. Đánh giá BMI theo tuổi ở trẻ nữ 2 - 20 tuổi 6 1. Phân loại béo phì theo sinh bệnh học [2], [55] a. Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh) Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng.
Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh) Là béo phì do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên - Béo phì do nguyên nhân nội tiết. - Béo phì do suy giáp trạng: Thƣờng xuất hiện muộn, béo vừa, chậm lớn, da khô, táo bón và chậm phát triển tinh thần. - Béo phì do cƣờng vỏ thƣợng thận: Có thể do tổn thƣơng tuyến yên hoặc u tuyến thƣợng thận, tăng cortisol và insulin huyết thanh, không dung nạp glucose, thƣờng béo ở mặt và thân, kèm theo tăng huyết áp. - Béo phì do thiếu hormon tăng trƣởng: Béo phì thƣờng nhẹ hơn so với các nguyên nhân khác, béo chủ yếu ở thân kèm theo chậm lớn.
- Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng: thƣờng xuất hiện sau dậy thì. Ngƣời béo phì có các dấu hiệu của rậm lông hoặc nam hóa sớm, kinh nguyệt không đều, thƣờng gặp các u nang buồng trứng kèm theo. - Béo phì trong thiểu năng sinh dục. - Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thƣơng vùng dƣới đồi, u não, chấn thƣơng sọ não, phẫu thuật thần kinh.
Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hƣởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thƣờng kèm theo béo phì [19], [55]. Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì - Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): Là loại béo phì có tăng số lƣợng và kích thƣớc tế bào mỡ. - Béo phì bắt đầu ở ngƣời lớn: Là loại béo phì có tăng kích thƣớc tế bào mỡ còn số lƣợng tế bào mỡ thì bình thƣờng. - Béo phì xuất hiện sớm: Là loại béo phì xuất hiện trƣớc 5 tuổi.
- Béo phì xuất hiện muộn: Là loại béo phì xuất hiện sau 5 tuổi. Các giai đoạn thƣờng xuất hiện béo phì là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì). Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì trƣờng diễn và các biến chứng khác [46]. Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu - Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông - thể Android): Là dạng béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng [57].
- Béo đùi (béo ngoại vi, béo phần thấp, béo hình quả lê, béo kiểu đàn bà - thể Gynoid): Là loại béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi. Phân loại này giúp dự đoán nguy cơ sức khoẻ của béo phì. Béo bụng có nguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đƣờng, tăng Insulin máu, rối loạn Lipid máu, không dung nạp Glucose hơn so với béo đùi [6]. Dịch tễ học thừa cân, béo phì ở trẻ em 1.Tình hình thừa cân, béo phì của trẻ em trên thế giới Trong những năm qua, tỉ lệ TCBP ở trẻ em đã gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới, điều đáng lo ngại là sự gia tăng TCBP ở trẻ em toàn cầu với tỉ lệ trung bình là 10%, xu hƣớng dịch tễ của TCBP đang thay đổi trên toàn thế giới, đặc biệt cao ở các nƣớc phát triển, song nó không chỉ phổ biến ở các nƣớc phát triển mà còn đang tăng nhanh ở các nƣớc đang phát triển, kể cả những nƣớc mà tình trạng suy dinh dƣỡng vẫn còn phổ biến, hơn 40% trẻ em Bắc Mỹ và Địa Trung Hải, 38% trẻ em Châu Âu, 27% trẻ em vùng Tây Thái Bình Dƣơng và 22% trẻ em ở Châu Á bị TCBP.
Năm 2010, kết quả phân tích 8 trên 450 điều tra cắt ngang về TCBP của trẻ em ở 144 nƣớc trên thế giới cho thấy có khoảng 43 triệu trẻ em dƣới 5 tuổi bị TCBP (trong đó 35 triệu trẻ em từ các nƣớc đang phát triển, 8 triệu trẻ em từ các nƣớc đã phát triển), 92 triệu trẻ em có nguy cơ bị thừa cân. Tỉ lệ TCBP của trẻ em trên thế giới đã tăng từ 4,2% năm 1990 lên 6,7% vào năm 2010. Ƣớc tính đến năm 2020 tỉ lệ TCBP của trẻ em sẽ đạt tới 9,1% (khoảng 60 triệu trẻ em trên thế giới bị TCBP) [81]. Khuynh hướng béo phì trẻ em nam từ 6-20 tuổi [59] 9 Biểu đồ 1.
Khuynh hướng béo phì trẻ em nữ từ 6-20 tuổi [59] Từ biểu đồ 1.4 cho thấy, tỉ lệ béo phì đang gia tăng theo thời gian. Dự đoán vào năm 2050 tỉ lệ béo phì gia tăng cho nam giới là 35% (nhóm 6 - 10 tuổi), 23% (nhóm 11-15 tuổi) và 25% cho nhóm dƣới 20 tuổi. Tƣơng tự cho nữ giới là 20% (nhóm 6- 10 tuổi), 35% (nhóm 11-15 tuổi) và 25% cho nhóm dƣới 20 tuổi. Nhiều nghiên cứu gần đây đã đƣa ra những con số đáng báo động ở châu Âu.