CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Làm mẹ an toàn là những biện pháp được áp dụng để đảm bảo sự an toàn cho cả người mẹ lẫn thai nhi (cũng như trẻ sơ sinh) mà mục đích là làm giảm tỉ lệ tử vong và bệnh tật ngay từ khi người phụ nữ còn mang thai, trong khi sinh và suốt trong thời kỳ hậu sản (42 ngày sau đẻ). Chìa khóa của làm mẹ an toàn là Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), chăm sóc người mẹ trước, trong và sau khi sinh đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông bao gồm tư vấn để cung cấp những kiến thức về SKSS, phát hiện và xử trí kịp thời những trường hợp bất thường của thai nghén và những hiện tượng xảy ra trong quá trình chuyển dạ làm giảm 5 tai biến sản khoa [2]. Y văn cũng cho thấy hầu hết các ca tử vong mẹ và tử vong trẻ em có thể phòng tránh được bằng cách cung cấp các dịch vụ bà mẹ trước và trong sau sinh, trẻ em và KHHGĐ chất lượng cao [48]. Tuy nhiên, nghiên cứu này không đề cập đến toàn bộ các nội dung của làm mẹ an toàn mà chỉ tập trung vào các nội dung chính là việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh, trong sinh và sau sinh chủ động từ phía của bà mẹ.
Thực trạng tử vong mẹ trên Thế giới và Việt Nam Cải thiện sức khỏe bà mẹ là một trong 8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) đã thông qua của Liên hợp quốc năm 2000 và là một trong các Mục tiêu phát triển bền vững từ năm 2015-2030. Với mục tiêu nâng cao sức khỏe bà mẹ, các nước cam kết giảm tỷ lệ tử vong mẹ xuống còn 3/4 từ năm 1990 đến năm 2015. Kết quả, từ năm 1990 đến nay, số ca tử vong mẹ trên toàn thế giới đã giảm 44% [33]. Tỷ số tử vong bà mẹ theo vùng theo WHO Tỷ số tử vong mẹ (trên 100.000 trẻ đẻ sống) WHO khu vực 1990 1995 2000 2005 2010 2013 Châu Phi 960 920 820 670 550 500 Châu Mỹ 110 92 81 71 70 68 Đông Nam Á 520 430 340 260 210 190 Châu Âu 42 36 29 22 20 17 Đông Địa Trung Hải 340 330 300 240 190 170 Tây Thái Bình Dương 110 93 78 63 49 45 5 Toàn cầu 380 360 330 270 230 210 (Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới) [40] Số lượng cao của sản phụ tử vong tại một số khu vực của thế giới phản ánh sự bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ y tế và có sự khác biệt khoảng cách tử vong giữa người giàu và người nghèo.
Hầu hết tất cả các ca tử vong mẹ (90%) xảy ra tại các nước đang phát triển, hơn một nữa số ca tử vong này xảy ra ở tiểu vùng Sahara Châu Phi và gần một phần ba xảy ra ở Nam Á [46]. Đến cuối năm 2015, khoảng 99% các ca tử vong mẹ trên toàn thế giới sẽ xảy ra tại các khu vực đang phát triển, với Sub-Saharan Châu Phi một mình chiếm 2 trong 3 (66%) trường hợp tử vong. Lào và Campuchia nằm trong nhóm 7 nước có tỷ suất chết mẹ cao nhất thế giới, chỉ đứng sau khu vực cận Sahara Châu Phi. Indonesia là một trong nhóm 11 nước chiếm 65% trường hợp tử vong mẹ trên toàn thế giới [46].
Mặc dù các nước trong khu vực Đông Nam Á đã giảm tỷ suất chết mẹ (Theo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 5) nhưng tốc độ giảm không đồng đều giữa các nước và Indonesia, Philippine và Myanmar có tốc độ giảm vẫn rất chậm[29]. Tỷ số tử vong mẹ ở các nước đang phát triển trong năm 2015 là 239/100.000 trẻ đẻ sống so với 12/1000.000 trẻ sinh sống ở các nước phát triển. Phụ nữ ở các nước đang phát triển trung bình mang thai nhiều hơn phụ nữ các nước đang phát triển và nguy tử vong do mang thai và sinh nở cao hơn. Nguy cơ tử vong do mang thai và sinh nở của một phụ nữ ở quốc gia đang phát triển cao hơn khoảng 33 lần so với một người phụ nữ sống trong một đất nước phát triển (các nước phát triển là 1/4900 phụ nữ so với các nước đang phát triển là 1/180 phụ nữ).
Đặc biệt ở các quốc gia bất ổn về kinh tế, chính trị, hệ thống y tế bị ảnh hưởng, nguy cơ tử vong lên tới 1/54 phụ nữ [29]. Tại Việt Nam, ước tính số tuyệt đối năm 2013, Việt Nam có 690 phụ nữ tử vong liên quan với mang thai và sinh đẻ với tỷ số tử vong mẹ ước tính là 60/100.000 trẻ đẻ ra sống. Tỷ số này là tương đương với các nước từ Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc đến Bhutan, và thấp hơn so với Philippin, Pakistan và một số quốc gia khác. Trong khuôn khổ của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), sức khỏe bà mẹ là một vấn đề được Bộ Y tế và Chính phủ Việt Nam quan tâm.
Việt Nam cũng 6 cam kết với Chiến lược toàn cầu của Liên Hợp Quốc về sức khỏe của trẻ em và Phụ nữ nhằm cứu sống hơn 16 triệu phụ nữ và trẻ em trong vòng 4 năm tới. Từ năm 1990, tử vong mẹ đã giảm tại Việt Nam và Việt Nam đang trên con đường thực hiện MDG5 (giảm ¾ tử vong mẹ từ 1990 đến 2015). Sức khỏe bà mẹ và việc tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản đã cải thiện liên tục tại Việt Nam trong 2 thập kỷ qua. Theo Bộ Y tế, tỷ số tử vong mẹ (MMR) đã giảm từ 233/100.000 trẻ sinh sống năm 1990 xuống 80/100.000 trẻ sinh sống năm 2005, và hiện tại ước tính khoảng 60/100.000 trẻ sinh sống năm 2014.
Cuộc đẻ có sự trợ giúp của nhân viên y tế được đào tạo đã tăng từ 85% năm 2000 lên 94,7% năm 2008. Tử vong mẹ cao hơn ở những phụ nữ sống tại nông thôn và trong cộng đồng nghèo hơn[5]. Điều tra tử vong mẹ, tử vong sơ sinh ở Việt Nam 2006-2007 cho thấy: Tỉ số tử vong mẹ (MMR) chung trên toàn quốc 63 trên 100. Tử vong trẻ sơ sinh (IMR) là 7,0 trên 1000 trẻ đẻ sống (năm 2007).
Có sự khác biệt giữa các khu vực, miền núi MMR cao hơn 3 lần và IMR cao hơn 2 - 2,5 lần so với các khu vực khác. Các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ là băng huyết, sản giật, nhiễm khuẩn. Phạm vi và các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Chăm sóc trước sinh Chăm sóc bà mẹ khi có thai còn gọi là chăm sóc trước sinh.
Dịch vụ chăm sóc trước sinh là những chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khỏe mạnh và được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt. Chăm sóc trước sinh có vai trò quan trọng nhằm phát hiện và quản lý hiệu quả các dấu hiệu bất thường từ sớm, hay những yếu tố nguy cơ đối với bệnh tật và từ vong trong quá trình mang thai [2]. Chăm sóc trước sinh bao gồm giáo dục, điều trị những tình trạng bệnh lý hoặc biến chứng xảy ra trong thời kỳ có thai, sàng lọc những nguy cơ, hướng dẫn và xác định nơi thai phụ sinh để đảm bảo an toàn. Chăm sóc trước sinh còn bao gồm chế độ ăn, chế độ làm việc, khám thai, tiêm phòng uốn ván, uống viên sắt/acid folic; phòng chống thiếu máu và tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ.
Tuy nhiên trong luận văn này, chúng tôi đề cập đến việc sử dụng các dịch vụ y tế trước sinh chủ động của bà mẹ bao gồm việc bà mẹ sử dụng dịch vụ khám thai, tiêm phòng uốn ván, uống viên sắt/acid folic. 7 Chuẩn quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản 2009, Bộ y tế quy định một thời kỳ thai nghén của người phụ nữ cần được khám thai định kỳ ít nhất 2 lần ở 3 quý của thai kỳ [2]. Vụ bà mẹ - trẻ em khuyến nghị bà mẹ mang thai cần khám thai 4 lần trở lên trong suốt thai kỳ [4]. Các chỉ tiêu về độ bao phủ của chăm sóc khi mang thai (tối thiểu một lần đến cán bộ y tế được đào tạo và từ 4 lần trở lên khi đến bất kỳ người cung cấp dịch vụ y tế nào) được sử dụng để theo dõi tiến trình thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ thứ 5 về cải thiện sức khỏe bà mẹ trẻ em [48].
Tiêm phòng uốn ván: Bệnh uốn ván là một trong 5 tai biến sản khoa thường gặp, đây là một bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao cho bà mẹ và trẻ sơ sinh. Tiêm phòng uốn ván đủ liều và đúng lịch sẽ phòng được uốn ván cho cả mẹ và trẻ sơ sinh. Với người chưa tiêm phòng uốn ván lần nào: tiêm mũi đầu khi phát hiện thai nghén bất kỳ ở tháng nào, tiếp theo mũi tiêm thứ hai sau mũi tiêm đầu một tháng và phải cách thời gian dự kiến đẻ ít nhất một tháng. Với những người đã tiêm đủ 2 mũi, nếu: + Lần tiêm trước <5 năm: tiêm 1 mũi + Lần tiêm trước >5 năm: tiêm 2 mũi.
Với người tiêm 3 mũi hoặc 4 mũi, cần tiêm nhắc lại một mũi. Với người đã tiêm đủ 5 mũi phòng uống ván theo đúng lịch, nếu mũi tiêm cuối cùng cách đây đã 10 năm trở lên thì nên tiêm thêm một mũi nhắc lại [2]. Sử dụng sắt/acid folic cho bà mẹ mang thai: Trong thời kỳ mang thai, nhu cầu sắt của thai phụ tăng để cung cấp cho thai nhi. Để phòng chống thiếu máu, bên cạnh việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng, chế độ làm việc hợp lý, tất cả phụ nữ có thai cần uống thêm viên sắt/Acid Folic càng sớm càng tốt, ngày uống 1 viên trong suốt thời kỳ mang thai, thời gian uống kéo dài 10 tháng kể từ khi phát hiện có thai đến sau đẻ ít nhất 1 tháng[2].
Chăm sóc trong sinh Là chăm sóc trong giai đoạn chuyển dạ, được tính từ khi sản phụ bắt đầu có dấu hiệu chuyển dạ (ra dịch hồng, vỡ ối) cho đến khi thai nhi và rau được đưa ra khỏi cơ thể người phụ nữ. Tăng tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế là một yếu tố quan trọng làm giảm các rủi ro cho sức khỏe bà mẹ và trẻ nhỏ. Chăm sóc y tế phù hợp với môi trường vệ sinh trong khi sinh có thể làm giảm những rủi ro tai biến hoặc nhiễm trùng có thể dẫn đến bệnh tật hoặc tử vong cho mẹ và bé [3]. 8 Tốt nhất bà mẹ phải được theo dõi chuyển dạ tại cơ sở y tế.
Trong trường hợp không đến được cơ sở y tế, nên mời cán bộ y tế có chuyên môn đỡ.