Chương 1 TỎNG QUAN 1. Một số khái niệm và lý thuyết về điều dưỡng, stress 1.1 Khái niệm về điều dưỡng và chức năng nhiệm vụ của ĐDV 1.1 Khái niệm ĐDV Điều dưỡng là một môn nghệ thuật và khoa học nghiên cứu cách chăm sóc bản thân khi cần thiết, chăm sóc người khác khi họ không thể tự chăm sóc. Tuy nhiên tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà định nghĩa về điều dưỡng được đưa ra khác nhau. Theo Nightingale 1860: “Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh dé hd tro su phuc hồi của họ”; Theo Virginia Handerson 1960: “Chức năng duy nhất của người điều đưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khỏe của người bệnh hoặc người khỏe, hoặc cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá thể có thể tự thực hiện nếu họ có sức khỏe, ý chí và kiến thức.
Giúp đỡ các cá thé sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt”; Theo Hội điều dưỡng Mỹ năm 1980: “Điều đưỡng là chân đoán và điều trị những phản ứng của con người đối diện với bệnh hiện tại hoặc bệnh có tiềm năng xảy ra”13, 19] 1.2 Chức năng nhiệm vụ của ĐDV Người điều dưỡng viên phải là người thực hiện được các chức năng [3]: - Chức năng phụ thuộc: là thực hiện có hiệu quả các y lệnh của bác sỹ. - Chức năng phối hợp: là phối hợp với bác sỹ trong việc CSNB; phối hợp thực hiện các thủ thuật, thực hiện theo đối và CSNB để cùng bác sỹ hoàn thành nhiệm vụ chữa bệnh để người bệnh sớm được ra viện. - Chức năng chủ động: bản thân người điều dưỡng chủ động CSNB; thực hiện “Quy trình điều dưỡng” để chăm sóc toàn diện người bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu mà bệnh nhân và gia đình họ mong muốn [19] Nhiệm vụ thực hành đạt được thông qua đánh giá việc áp dụng quy trình điều dưỡng như: Nhận định bệnh nhân; chắn đoán điều dưỡng; lập kế hoạch chăm sóc; thực hiện chăm sóc theo kế hoạch và đánh giá người bệnh sau khi thực hiện chăm sóc: 5 Tại bệnh viện, ĐDV chủ động giúp đỡ người bệnh để đáp ứng các nhu cầu cơ bản khi họ yêu cầu hoặc thực hiện các công việc chăm sóc điều trị cùng bác sỹ cho người bệnh. Nhiều khi người bệnh cản trở việc thực hiện, ĐDV cần phát huy vai trò lãnh đạo bằng cách thuyết phục, giải thích để họ cộng tác trong quá trình điều trị bệnh để mau chóng khỏi bệnh.
Tại cộng đồng, ĐDV giúp đỡ người bệnh cô đơn, một gia đình, hoặc cụm dân cư để thay đổi các hành vi liên quan đến sức khỏe. Người điều đưỡng cần sử dụng các văn bản dưới luật, các chiến dịch, các công trình dịch vụ công cộng hướng về sức khỏe, các dự án hỗ trợ,. để làm tốt vai trò lãnh dao cua minh[3, 19] Nhiệm vụ nghiên cứu: nghiên cứu điều dưỡng là góp phần tạo cơ sở khoa học cho hành nghề điều dưỡng. Thông qua các công trình nghiên cứu đề xác định các kết quả của chăm sóc điều dưỡng và mang lại các bằng chứng khoa học thực tiễn từ đó rút kinh nghiệm và cải thiện chất lượng chăm sóc.2 Khái niệm stress và nguyên nhân 1.1 Khái niệm Stress Stress là một hiện tượng chủ quan nên không tuân theo một định nghĩa rõ ràng.
Hiện nay, thuật ngữ stress đang được sử dụng rộng rãi nhưng đã được bắt nguồn từ năm 1936 do Hans Selye phát hiện và xác định như là “Các phản ứng không đặc hiệu của cơ thê trước những thay đổi bất kỳ” [45]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), stress là sự tác động mạnh mẽ lên một hệ thống, thay đổi hình thức về áp lực tâm lý xã hội. Các sự kiện hoặc tình huống có thể được gọi là stress khi chúng gây ra một tác động trên trạng thái cân bằng của con người. Sự căng thẳng về tâm lý cũng được gọi là stress.2Nguyên nhân gây stress Mô hình Nhu cầu- Kiểm soát- Hỗ trợ: (Demand Control Support model) (Do Karesek, 1979; Johnson, Hall & Theorell, 1988).
Lý thuyết cho rằng có 3 đặc điểm công việc (nguyên nhân gây stress) chủ yếu gây ra tình trạng sức khỏe là: Nhu cầu cao, kiểm soát kém và hộ trợ xã hội kém. Ở một hoàn cảnh trong đó áp lực công việc lớn, và kiêm soát, hỗ trợ kém được giả thuyết ở hầu hết gây hại cho người lao động[37]. Mô hình cá nhân — môi trường (Person-Environment — PE): Các nguồn stress được xác định như một sự không thích hợp giữa cá nhân và môi trường, như sự không 6 thích hợp giữa nhu cầu cá nhân và những, đáp ứng, phần thưởng của cá nhân và tô chức hoặc sự không phụ hợp kỹ năng, năng lực của cá nhân với đòi hòi, yêu cầu công việc (Harrison, 1985)[37] 1.3 Phân loại stress Theo bác sĩ Đặng Phương Kiệt stress có 3 mức độ, trong đó mức độ nhẹ làm cho chủ thể cảm nhận như là thách thức, có thể là một kích thích làm tăng thành tích. Stress ở mức độ vừa là phá vỡ mức độ ứng xử, có thê dẫn đến những hành động lặp đi lặp lại.
Stress ở mức độ nặng là mức độ ngăn chặn ứng xử và gây ra những phản ứng lệch lạc [9] Theo thạc sĩ Nguyễn Thị Hải thì cũng phân chia stress thành 3 mức độ nhưng lại khác cách định nghĩa: mức độ một ít tram trong khi stress chi biểu hiện ở một mặt, không kéo dài, chủ thể có thể tự khắc phục được. Mức độ hai là tram trong biểu hiện ở 2 hay một số mặt, lặp đi lặp lại ở I thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong một thời gian nhất định. Mức độ 3 là rất trầm trọng biểu hiện ở nhiều mặt, diễn ra trong thời gian dài, phải khắc phục trong thời gian rat dai [8] Mức độ của stress phụ thuộc vào các yếu tố sau: Thời lượng: Mức nghiêm trọng của stress phụ thuộc vào khoảng thời gian một người cảm thấy mình phải chịu đựng stress. Nếu stress diễn ra trong một thời gian ngắn thì con người vẫn có thê tập trung sức lực để vượt qua, không bị mắt niềm tin vào bản thân và tương lai.
Nếu stress cứ tiếp diễn, con người sẽ mất tỉnh thần, sức lực và hy vọng bị hao mòn, ít còn khả năng chịu đựng. Nếu stress kéo dài mà con người chỉ có các đáp ứng sinh lý mà không có cách ứng phó khác thì sẽ dẫn đến kiệt sức[8] Cường độ: Khi hậu quả của stress gây lâm nguy cho sự tổn tại và an toàn cho cá nhân thì stress được cho là ở mức độ nghiêm trọng. Một người có ý nghĩ tiêu cực về việc làm của mình mà đó lại là nguồn thỏa mãn chính yếu thì cũng làm rơi vào một tình trạng stress nghiêm trọng, khi một người nhận thấy mình đang rơi vào một tình cảnh hoàn toàn xa lạ thì stress gây ra sẽ lớn hơn so với việc đương đầu với những vấn đề quen thuộc, nếu rơi vào tình huống bắt ngờ, đột ngột không có thời gian chuẩn bị thì mức độ stress sẽ nặng nề hơn [9] Các yếu tố cá nhân: Mức độ nghiêm trọng của stress còn tùy thuộc vào bản thân người bị stress, đó chính là sự nhận định của cá nhân về các kích thích và khả năng 7 ứng phó của họ. Levice, Weinberg, Ursin, (1978) da néu “nhan định là quá trình trong đó chúng ta gán những ý nghĩa cho các sự kiện bên trong chúng ta hoặc xung quanh chúng ta”.
Theo Lazarus, Launier (1978) stress liên quan đến việc nhận định một sự kiện là có tính đe dọa, có hại hoặc thách thức, hoặc khi cá nhân nhận định khả năng ứng phó là không đầy đủ hoặc không hiệu quả đều là những điều kiện để stress xuất hiện. Việc nhận định kích thích và nhận định khả năng ứng phó sẽ tương tác với nhau dé hình thành mức độ của stress mà đương sự trải qua. Mức độ stress cao nhất xảy ra khi kích thích là rất tiêu cực và khi tính khả thi thì mức độ stress sẽ giảm đi. Tuy nhiên, một số tình huống khi sự kiện kích thích được nhận định là “rất tiêu cực”, và những phương thức ứng phó có khả năng thực thi được vẫn xây ra stress do tính chất nghiêm trọng của sự kiện.
Tương tự, khi sự kiện ít nghiêm trọng, nhưng trong tay không có sẵn những biện pháp giải quyết stress sẽ xảy ra do bị mắt khả năng kiểm soát sự kiện [6] Từ những cách phân chia mức độ stress trên cho chúng ta thấy rằng chưa có một tiêu chí về mặt định lượng hay định tính cụ thé dé phân biệt mức độ stress là nặng, vừa hay nhẹ, trầm trọng hay ít trầm trọng.2 Một số thang đo trầm cảm, lo âu, stress Trên thế giới hiện nay có nhiều thang đo được sử dụng trong đánh giá sức khỏe tâm thần của con người. Tùy vào đối tượng và mục đích của nghiên cứu mà các tác giả có thể sử dụng những thang đo khác nhau. Có thê kế đến một số thang đo như sau: - Thang Đánh giá trầm cảm Hamilton (HDRS): Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton, ra doi năm 1960, thường được viết tắt theo các chữ cái đầu từ của tiếng Anh là HDRS (Hamilton Depression Rating Scale) hoặc HAMD (Hamilton Depression).Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton có nhiều phiên bản khác nhau. Phiên bản gốc có 21 đề mục (Hamilton, 1960).
Phiên bản được tác giả coi là vĩnh viễn có 17 đề mục (Hamilton, 1967). Trong cấu trúc của thang đánh giá, 17 đề mục được giữ lại trong phiên bản mà ông coi như vĩnh viễn là những đề mục đại diện tốt nhất cho triệu chứng học của rối loạn trầm cảm. Theo tác giả, điểm tông cộng phản ánh được cường độ chung của hội chứng trầm cảm. Hamilton tính điểm từ các đề mục cụ thể.
Mỗi đề mục của thang đánh giá được cho điểm từ 0 đến 2 hoặc từ 0 đến 4.Những điểm cho từ 0 đến 4 tương đương lần lượt với các triệu chứng như sau: không có triệu 8 chứng; triệu chứng nghi ngờ hoặc không có ý nghĩa; triệu chứng nhẹ; triệu chứng vừa và triệu chứng nặng. Những điểm cho từ 0 đến 2 tương đương với những mức độ triệu chứng sau: không có triệu chứng: triệu chứng nghỉ ngờ hoặc không đáng kể và triệu chứng biểu hiện rõ ràng. Điểm tổng cộng của phiên bản 17 đề mục là từ 0 đến 52 điểm [34]. Thang này thể hiện một phương pháp đơn giản để đánh giá bằng định lượng mức độ nghiêm trọng của tình trạng trầm cảm, và để chứng minh những chuyên biến của rối loạn này trong quá trình điều trị.
Thang đánh giá trầm cảm của Hamilton không phải là một công cụ nhằm mục đích chân đoán.