Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Stress ở điều dưỡng viên 1. Khái niệm về stress và stress nghề nghiệp 1. Khái niệm về stress Người đầu tiên đưa ra thuật ngữ stress trong các nghiên cứu về sinh lý học nói về những thay đổi của cơ thể con người khi đau đớn, đói, sợ hãi và giận giữ của mình là Walter Bradford Cannon 1915 “Động vật phản ứng với các mối đe dọa và sự kích thích của hệ thần kinh giao cảm, mồi động vật để chiến đấu hoặc chạy trốn”[34].
Năm 1936, Hans Selye là nhà sinh lý học người Hung-ga-ri đã có công lớn trong việc chính thức đưa ra khái niệm stress một cách khoa học và được coi như cha đẻ của định nghĩa stress, theo Ông “Stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng”[55]. Hans Selyeđã sử dụng thuật ngữ stress để mô tả hội chứng của quá trình thích nghi với mọi loại bệnh tật, các nghiên cứu về sau của Hans Selye nhấn mạnh: “stress có tính chất tổng hợp chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý”[55]. Stress là phản ứng của cơ thể sống, là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ tác động nào, cũng theo ông stress có mặt lợi đó là kích thích tích cực, huy động sức mạnh để con người vượt qua khó khăn, nhưng cũng có mặt hại nếu quá mức đáp ứng của cơ thể, gây ra tình trạng ốm đau, bệnh lý,. Hans Selye đã nêu được bản chất sinh học của stress, tuy nhiên ông chưa đề cập đến khía cạnh tâm lý – xã hội của vấn đề này.
Như vậy, có thể thấy stress được hiểu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu stress dựa trên định nghĩa của Hans Selye làm định hướng nghiên cứu chính cho đề tài này. Khái niệm về stress nghề nghiệp Hans Selye đã từng nói “cuộc đời không có stress đó là cái chết” [54]. Do đó, stress luôn song hành ở tất cả các phương diện của cuộc sống, đặc biệt nó luôn tồn tại cùng các hoạt động lao động của con người, bất kể lao động chân tay hay lao động trí óc. Hiện nay, những yếu tố có nguy cơ cao gây stress nghề nghiệp và 5 những ảnh hưởng của nó đối với sức khỏe con người cũng như hiệu quả công việc đang là vấn đề quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Theo tác giả Lê Trung định nghĩa rằng: “Stress nghề nghiệp là sự mất cân bằng giữa yêu cầu và khả năng lao động” [24]. Viện nghiên cứu sức khỏe và An toàn nghề nghiệp Quốc gia Hoa Kỳ (NIOSH) năm 1999 cũng định nghĩa stress nghề nghiệp có thể là: những áp lực có hại về mặt cảm xúc và có thể xảy ra khi ta yêu cầu công việc không phù hợp với khả năng, nhu cầu và nguồn lực của người lao động. Stress nghề nghiệp có thể dẫn tới sức khỏe kém và thậm chí là bị tổn thương [27]. Cơ chế sinh học của stress Khi có hiện tượng stress xảy ra thì cơ thể có đáp ứng thông qua hệ thần kinh, nội tiết và thể dịch, riêng đáp ứng tức thì được điều hòa bởi hệ thần kinh thực vật, còn các đáp ứng trung gian được điều hòa bởi tuyến thượng thận, với đáp ứng dài hạn được điều hòa bởi hệ nội tiết và hệ miễn dịch.
Các đáp ứng này lại được kiểm soát bởi vùng hạ đồi.Hạ đồi cùng với hệ Limbic kiểm soát những chức năng cơ bản của cơ thể như ăn, uống nhưng chịu sự ảnh hưởng của vỏ não [1], [9], [20]. Hệ thần kinh thực vật của cơ thể con người bao gồm hệ giao cảm và hệ phó giao cảm. Khi có các tác nhân gây stress, hệ giao cảm sẽ được hoạt hóa giúp cơ thể chuẩn bị ứng phó với các tác nhân bên ngoàilàmtăng nhịp tim, tăng sức co bóp của cơ tim từ đó tăng cung lượng tim, đồng thời gây tăng hàm lượng oxy trong máu và tăng năng lượng cung cấp cho các cơ quan. Đó là những đáp ứng tương đối tự động và đã được lập trình về mặt sinh học để đáp ứng với những stress về thể chất và tâm lý [1], [9].
Những đáp ứng tức thì xảy ra thông qua hệ thần kinh thực vật hay còn gọi là hệ thần kinh tự trị. Phản ứng cơ thể con người trước stress được duy trì bởi một cơ chế trung gian (đáp ứng trung bình) là sự phóng thích hai hoóc môn Epinephrine và Norepinephrine của tuyến tủy thượng thận. ACTH (Adrenocorticotropic Hormone) ở hệ thống dưới đồi – tuyến yên, được phóng thíchkích thích tuyến vỏ thượng thận, hai hoóc môn Epinephirne và Norepinephirne huy động đạm và mỡ từ các tổ chức 6 trong cơ thể đến gan để chuyển hóa thành đường glucose. Hệ quả sau cùng của tác động này là tăng nhịp tim, tăng huyết áp, hô hấp, tăng đường huyết, cung cấp cho cơ thể năng lượng cần thiết đáp ứng với các yếu tố stress.
Những đáp ứng dài hạn xảy ra qua hệ nội tiết và hệ miễn dịch.Chúng điều hòa giai đoạn 3 của các biến đổi sinh lý trong đáp ứng với stress. Bốn tuyến nội tiết bao gồm: tuyến yên, tuyến giáp, tuyến vỏ thượng thận và tuyến tụy nội tiết. Khi cơ thể bị stress sẽ gây tăng tiết hoóc môn GH (Growth Hormone) từ tuyến yên làm tăng tiêu hao năng lượng và làm tăng đường huyết, đồng thời giải phóng ADH(Antidiuretic Hormone)tăng tái hấp thu nướcvào cơ thể để tăng khối lượng dịch trong cơ thể, việc này giúp bảo vệ cơ thể chống lại sự mất máu và làm tăng thể tích máu, tăng huyết áp. Sự phóng thích hoóc môn Thyroxine từ tuyến giáp được kiểm soát bởi hoóc môn TSH (Thyroid-Stimualting Hormone) do tuyến yên tiết ra có tác dụng làm tăng chuyển hóa và tăng sử dụng glucose.
Ngoài ra, thyroxine được tăng tiếtgiúp huy động các nguồn năng lượng sẵn có để cơ thể chuẩn bị các hoạt động ứng phó với stress, lúc này Insullin cũng được tuyến tụy tăng tiết giúp tăng đường huyết để chuẩn bị sẵn năng lượng cần thiết cho phản ứng của cơ thể với stress[1], [9]. Biểu hiện và mức độ của stress 1. Biểu hiện của stress Stress thể hiện ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau rất đa dạng và phức tạp. Khi người lao động bị stress trong công việc họ có những thay đổi cả về thể chất và tâm lý (nhận thức, cảm xúc, hành vi).
Biểu hiện về thể chất:Biểu hiện của stress về mặt thể chất rất đa dạng, phức tạp nólà những thay đổi ở hệ thần kinh, tim mạch, tiêu hóa, hô hấp, tiết niệu,… cụ thể như: tim đập nhanh, vã mồ hôi nhiều, chóng mặt, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ, chán ăn hoặc ăn không ngon miệng, căng mỏi cơ bắp, đau nhức xương khớp, đau vùng dạ dày và buồn nôn,…[12],[9], [46]. Biểu hiện về mặt tâm lý: Những biểu hiện stress về mặt tâm lý thể hiện sự thay đổi hoạt động của các quá trình nhận thức, xúc cảm và hành vi như: giảm sự 7 tập trung, lơ đãng, hay quên, suy nghĩ kém linh hoạt, mệt mỏi về tinh thần và trí lực giảm sút, cảm giác về công việc bị áp lực đè nặng, tinh thần hoang mang, buồn chán, không hứng thú với công việc hay nói cách khác là sợ khi phải làm việc, làm việc uể oải chần trừ né tránh, thiếu linh hoạt giải quyết vấn đề, sai sót nhiều trong công việc, vì vậy dễ cáu gắt hay nổi khùng với những người xung quanh, có người lại biểu hiện gia tăng những hành vi có hại như: hút thuốc lá, uống rượu, ma túy,…ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, hủy hoại uy tín của bản thân, cũng như gia đình, cơ quan, tổ chức[8], [46]. Mức độ stress Cho đến nay, có rất nhiều cách phân loại mức độ stress khác nhau: Theo Đặng Phương Kiệt, stresscó 3 mức độ [9]: Stressmức độ nhẹ: là mức độ chủ thể, có thể cảm nhận như một thách thức làm tăng thành tích trong công việc. Stressmức độ vừa: là mức độ phá vỡ những nguyên lý cơ bản của con người dẫn đến những biểu hiện không tốt lặp đi lặp lại nhiều lần.
Stressmức độ nặng: là mức độ dẫn đến ngăn chặn ứng xử gây ra những phản ứng lệch lạc gây tổn hại bản thân và người xung quanh. Cách phân loại này đã chỉ ra được dấu hiệu tâm lý của các mức độ stress. Theo Nguyễn Thị Hải[4], stressđược chia thành 3 mức độ như sau: Mức độ ít trầm trọng: khi stress chỉ biểu hiện ở một mặt, không kéo dài, con người có thể tự khắc phục được. Mức độ trầm trọng: biểu hiện ở hai hay một số mặt, lặp đi lặp lại trong thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong một thời gian nhất định.
Mức độ rất trầm trọng: biểu hiện ở nhiều mặt, diễn ra rong thời gian dài, phải khắc phục trong thời gian rất dài. Tác giả Nguyễn Thành Khải [10] đưa ra cách phân loại stressthành 3 mức độ dựa trên sự cảm nhận của chính chủ thể gồm: 8 Mức độ 1: rất căng thẳng, con người cảm nhận rất căng thẳng về tâm lý, đây là trạng thái khó chịu của con người cảm nhận được và có nhu cầu được thoát khỏi nó. Mức độ 2: căng thẳng, con người cảm nhận thấy có sự căng thẳng cảm xúc, sự tập trung chú ý cao hơn, trí nhớ, tư duy nhanh nhạy hơn, các chỉ số về sinh lý tăng mạnh. Nếu trạng thái này kéo dài cơ thể sẽ chuyển sang mức độ rất căng thẳng.
Sự bền vững của mức độ này tùy thuộc vào mức độ và tính chất công việc hay tâm lý của từng người. Mức độ 3: ít căng thẳng, ở mức độ này con người cảm nhận thấy bình thường hoặc căng thẳng nhẹ, mọi hoạt động tâm sinh lý diễn ra bình thường, sự thay đổi không đáng kể, cơ thể huy động năng lượng ở mức độ vừa phải. Theo Hans Selye, stresscó hai mức độ: Mức độ eustress: là mức độ bình thường, là phản ứng thích nghi của cơ thể trước những tác nhân, đây là stress tích cực nó huy động khả năng tích cực của cơ thể để vượt qua tác nhân gây stress lấy lại sự cân bằng [55]. Mức độ distress: là mức độ stress bệnh lý, biểu hiện sự phản ứng thích nghi của cơ thể bị thất bại, con người không vượt qua được các tác nhân xấu gây ra tình trạng stress (biểu hiện ốm đau, bệnh tật,…) [55].
Cách phân loại stress của Hans Selye đã chỉ ra mức độ có lợi và có hại cho cơ thể, dễ dàng đánh giá mức độ stress cũng như kết luận tình trạng stress trên đối tượng chúng tôi nghiên cứu.