Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sức khỏe tâm thần là một cấu phần thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các rối loạn tâm thần phổ biến như trầm cảm, lo âu và stress ảnh hưởng đến khoảng 25% dân số toàn cầu tại một thời điểm nhất định trong đời. Ước tính năm 2012, thế giới có khoảng 350 triệu người chịu ảnh hưởng của trầm cảm; trong giai đoạn 1990–2013, số lượng người mắc trầm cảm và/hoặc lo âu đã tăng gần 50%, từ 416 triệu lên 615 triệu người. Dự báo đến năm 2030, trầm cảm sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, tỷ lệ trầm cảm và lo âu trong toàn dân số được ghi nhận lần lượt là 4,0% và 2,2%.

Sinh viên đại học, đặc biệt là sinh viên khối ngành Y Dược, thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao đối mặt với các rối loạn sức khỏe tâm thần do đặc thù chương trình đào tạo kéo dài, khối lượng kiến thức lớn, tính kỷ luật nghiêm ngặt, áp lực thi cử cùng các yêu cầu thực hành lâm sàng và trực đêm tại bệnh viện. Nghiên cứu thực hiện năm 2015 trên sinh viên 8 trường đại học y dược tại Việt Nam đã ghi nhận 43,2% sinh viên có biểu hiện trầm cảm, 8,7% có ý tưởng tự sát, 3,9% lên kế hoạch tự sát và 0,9% đã từng thực hiện hành vi tự sát. Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đào tạo nguồn nhân lực y tế theo mô hình kết hợp – kế tiếp $(a+b)$, quy tụ nhiều sinh viên ngoại tỉnh phải tự lập trong sinh hoạt và thích nghi với điều kiện sống mới. Mặc dù các công trình trước đây tại Việt Nam đã tiếp cận riêng lẻ từng vấn đề trên sinh viên y khoa hoặc y tế công cộng, việc đánh giá đồng thời cả ba tình trạng trầm cảm, lo âu và stress trên cùng một quần thể sinh viên tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN vẫn chưa được thực hiện đầy đủ.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Vũ Thái Phương Nam đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa nhằm giải quyết 02 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021–2022.
  2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2021–2022.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu thuộc tất cả các chuyên ngành đào tạo (Y đa khoa, Dược học, Răng – Hàm – Mặt, Kỹ thuật hình ảnh y học, Kỹ thuật xét nghiệm y học, Điều dưỡng) đang học tập tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN và tự nguyện đồng ý tham gia khảo sát. Tiêu chuẩn loại trừ là các sinh viên đã thôi học tại trường.
  • Phạm vi không gian: Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ quá trình nghiên cứu thực hiện từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2022; giai đoạn thu thập dữ liệu khảo sát trực tuyến diễn ra từ tháng 10/2021 đến hết tháng 01/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập cơ sở lý luận dựa trên các định nghĩa chuẩn hóa trong y văn và tâm thần học lâm sàng:

  • Trầm cảm (Depression): Được định nghĩa theo Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10, mã F32.-), biểu hiện qua sự ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần (cảm xúc, tư duy, vận động) với các triệu chứng đặc trưng kéo dài ít nhất 2 tuần như khí sắc trầm, mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng, mệt mỏi, bi quan, giảm sút tự trọng hoặc có ý tưởng tự hủy hoại.
  • Lo âu (Anxiety): Tiếp cận theo phân loại của WHO đối với các rối loạn tâm căn liên quan đến stress và dạng cơ thể, thể hiện qua trạng thái sợ hãi quá mức, vô cớ, mang tính chủ quan mạn tính hoặc kịch phát với các dạng lâm sàng phổ biến như rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) và rối loạn lo âu xã hội (SAD).
  • Stress: Sử dụng khái niệm tâm lý học của Richard Lazarus, xác định stress là trạng thái cảm xúc nảy sinh khi cá nhân nhận định các yêu cầu từ môi trường bên trong hoặc bên ngoài mang tính đe dọa, vượt quá các nguồn lực cá nhân và xã hội có thể huy động.

Công cụ đo lường và thang điểm: Nghiên cứu sử dụng thang đo rút gọn Depression – Anxiety – Stress Scales 21 (DASS-21) do Lovibond S. F. phát triển năm 1997, đã được dịch và chuẩn hóa tại Việt Nam bởi Trần Đức Thạch và cộng sự (2013) với hệ số Cronbach's alpha đạt 0,88. Thang đo gồm 21 mục hỏi chia đều cho 3 phân thang (7 câu/phân thang), đánh giá mức độ triệu chứng trải qua trong vòng 1 tuần trước thời điểm khảo sát theo 4 mức (từ 0 = Không đúng với tôi chút nào cả đến 3 = Hoàn toàn đúng/hầu hết thời gian là đúng). Điểm số của mỗi phân thang được nhân hệ số 2 để quy đổi về thang điểm từ 0 đến 42 và phân loại mức độ theo ngưỡng:

Mức độ Trầm cảm (Điểm) Lo âu (Điểm) Stress (Điểm)
Bình thường 0 – 9 0 – 7 0 – 14
Nhẹ 10 – 13 8 – 9 15 – 18
Vừa 14 – 20 10 – 14 19 – 25
Nặng 21 – 27 15 – 19 26 – 33
Rất nặng $\ge 28$ $\ge 20$ $\ge 34$

Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (Cross-sectional descriptive study).
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Cỡ mẫu tối thiểu được tính toán theo công thức ngẫu nhiên phân tầng 6 khối năm học bằng phần mềm WHO Sample Size 2.0 (với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$, sai số tuyệt đối $d = 0,05$, tỷ lệ trầm cảm dự kiến $P_h = 0,396$ dựa trên nghiên cứu tại Đại học Y Hà Nội), xác định cỡ mẫu tối thiểu là $n = 302$. Phương pháp chọn mẫu thực tế là chọn mẫu thuận tiện trên toàn bộ sinh viên đủ tiêu chuẩn, thu thập được dữ liệu hoàn chỉnh của $N = 783$ sinh viên.
  • Xử lý số liệu: Nhập liệu và làm sạch bằng phần mềm SPSS 20.0. Các biến phụ thuộc được phân nhóm nhị phân: Có dấu hiệu (bao gồm mức độ từ nhẹ đến rất nặng) và Không có dấu hiệu (mức bình thường). Sử dụng các kiểm định thống kê y sinh học với ngưỡng ý nghĩa xác định tại mức $p < 0,05$.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được thông qua và chấp thuận bởi Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Công tác Học sinh Sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN; toàn bộ đối tượng tham gia trên tinh thần tự nguyện, thông tin được mã hóa bảo mật tuyệt đối.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN

Chương này hệ thống hóa toàn diện các cơ sở lý luận về rối loạn trầm cảm, lo âu và stress; phân tích dịch tễ học sức khỏe tâm thần trong môi trường giáo dục đại học quốc tế và Việt Nam. Tác giả tổng hợp các bằng chứng y văn về các nhóm yếu tố nguy cơ tác động đến sức khỏe tâm thần sinh viên y khoa bao gồm:

  • Yếu tố cá nhân: Tuổi, giới tính, năm học, nơi sinh sống, hình thức cư trú (nhà trọ, ký túc xá, ở cùng gia đình) và điều kiện kinh tế cá nhân.
  • Yếu tố học tập: Áp lực khối lượng kiến thức, lịch kiểm tra/thi cử, kỹ năng lập kế hoạch học tập, sự thỏa mãn đối với ngành học và kết quả học tập (điểm GPA).
  • Yếu tố gia đình và xã hội: Thu nhập hộ gia đình, xung đột/bất hòa giữa các thành viên, sự quan tâm chia sẻ từ cha mẹ, các mối quan hệ bạn bè và khả năng thích nghi môi trường sống.

Chương 1 cũng trình bày đặc thù của Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN với mô hình đào tạo kết hợp – kế tiếp $(a+b)$, trong đó giai đoạn 2 năm đầu sinh viên học tập tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và các năm tiếp theo chuyển về Trường Đại học Y Dược để học tập khối kiến thức ngành, thực hành tiền lâm sàng và lâm sàng tại các bệnh viện thực hành.

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu khoa học y học:

  • Quy định rõ tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ cho 6 khối sinh viên thuộc 6 chuyên ngành đào tạo.
  • Trình bày công thức toán học phân tầng tính toán cỡ mẫu trên phần mềm WHO Sample Size 2.0 và bảng phân bổ mẫu theo từng năm học.
  • Chi tiết hóa bảng biến số nghiên cứu bao gồm nhóm biến nhân khẩu xã hội, nhóm biến học tập, nhóm biến gia đình – xã hội và bộ tiêu chí sàng lọc DASS-21.
  • Quy trình thu thập số liệu trực tuyến qua Google Form trong 4 tháng (10/2021 – 01/2022), phương pháp làm sạch, mã hóa dữ liệu trên phần mềm SPSS 20.0, quy chuẩn đạo đức nghiên cứu và phân tích nguồn sai số.

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng thu được từ 783 sinh viên tham gia khảo sát:

  • Đặc điểm nhân khẩu và hoàn cảnh sống: Nữ giới chiếm 56,2% (440 SV), nam giới chiếm 43,8% (343 SV). Phân bố theo năm học: Năm 1 (20,8%), Năm 2 (17,9%), Năm 3 (19,8%), Năm 4 (22,5%), Năm 5 (13,7%) và Năm 6 (5,4%). Tỷ lệ sinh viên dân tộc Kinh chiếm 87,6%; 92,5% không theo tôn giáo; 57,7% sinh ra ở khu vực nông thôn; 52,6% đang thuê trọ; 47,3% cảm thấy tài chính cá nhân ở mức gần đủ nhưng phải đắn đo khi chi tiêu. 96,0% sinh viên có bố mẹ đang chung sống; 90,5% gia đình có mức kinh tế trung bình. 43,8% sinh viên từng chứng kiến bố mẹ bất hòa và 39,7% có mâu thuẫn trong gia đình. 50,7% gặp khó khăn khi tìm bạn mới.
  • Đặc điểm học tập: Điểm GPA phân loại Khá chiếm đa số với 57,4%, Giỏi chiếm 17,4%, Trung bình chiếm 18,8%, Xuất sắc chiếm 4,1% và Yếu chiếm 2,3%. Tỷ lệ không hài lòng với kết quả thi là 64,8%. Tỷ lệ phải thi lại chiếm 12,4% (trong đó thi lại 1 môn chiếm 56,7%, 2 môn chiếm 27,8%, trên 2 môn chiếm 15,5%). Tỷ lệ vi phạm nội quy là 0,9%.
  • Thực trạng trầm cảm, lo âu và stress:
    • Trầm cảm: Tỷ lệ chung là 53,4% (Nhẹ: 25,8%; Vừa: 20,9%; Nặng: 3,6%; Rất nặng: 3,1%). Tỷ lệ mắc ở sinh viên nữ (51,7%) cao hơn nam (48,3%). Khối năm 2 có tỷ lệ trầm cảm cao nhất (58,6%), thấp nhất là khối năm 1 (44,8%).
    • Lo âu: Tỷ lệ chung là 59,5% (Nhẹ: 14,7%; Vừa: 29,2%; Nặng: 9,5%; Rất nặng: 6,1%). Sinh viên nữ (55,2%) cao hơn sinh viên nam (44,8%). Khối năm 6 có tỷ lệ lo âu cao nhất (71,4%), thấp nhất là khối năm 3 (55,5%).
    • Stress: Tỷ lệ chung là 48,0% (Nhẹ: 25,3%; Vừa: 15,2%; Nặng: 5,4%; Rất nặng: 2,2%). Sinh viên nữ (59,3%) cao hơn sinh viên nam (40,7%). Khối năm 3 có tỷ lệ stress cao nhất (52,9%), thấp nhất là khối năm 5 (42,1%).

Chương 4: BÀN LUẬN

Tác giả tiến hành so sánh đối chiếu tỷ lệ phát hiện với các nghiên cứu trong nước và quốc tế:

  • Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm (53,4%) và lo âu (59,5%) của sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN tương đồng với các công trình trên sinh viên y khoa tại Malaysia (Yusoff, 54,5% lo âu), Ai Cập (Abdel Wahed, 60,2% trầm cảm) và cao hơn mức ghi nhận chung trên sinh viên các trường ngoài ngành y.
  • Phân tích nguyên nhân khiến tỷ lệ lo âu đạt đỉnh ở sinh viên năm cuối (71,4%) do áp lực kép từ các kỳ thi tốt nghiệp lâm sàng, khóa luận và định hướng nghề nghiệp/tìm kiếm việc làm sau khi ra trường.
  • Bàn luận về vai trò của các yếu tố hỗ trợ xã hội: sinh viên có mạng lưới bạn thân và thường xuyên chia sẻ cảm xúc có mức độ rối nhiễu tâm lý thấp hơn rõ rệt so với nhóm sống cô lập hoặc gặp xung đột.

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp thực trạng trầm cảm, lo âu, stress trên sinh viên khảo sát ($N = 783$)

Trạng thái tâm lý Mức độ Số lượng ($n$) Tỷ lệ (%) Tỷ lệ chung (%)
Trầm cảm Bình thường 365 46,6 53,4 (Có biểu hiện)
Nhẹ 202 25,8
Vừa 164 20,9
Nặng 28 3,6
Rất nặng 24 3,1
Lo âu Bình thường 317 40,5 59,5 (Có biểu hiện)
Nhẹ 115 14,7
Vừa 229 29,2
Nặng 74 9,5
Rất nặng 48 6,1
Stress Bình thường 407 52,0 48,0 (Có biểu hiện)
Nhẹ 198 25,3
Vừa 119 15,2
Nặng 42 5,4
Rất nặng 17 2,2

Phân bố tỷ lệ rối loạn tâm lý theo giới tính và khối năm học

Phân nhóm đối tượng Tỷ lệ Trầm cảm (%) Tỷ lệ Lo âu (%) Tỷ lệ Stress (%)
Giới tính
- Nữ 51,7 55,2 59,3
- Nam 48,3 44,8 40,7
Khối năm học
- Năm thứ nhất 44,8 (Thấp nhất) 57,1 47,2
- Năm thứ hai 58,6 (Cao nhất) 57,9 49,3
- Năm thứ ba 53,5 55,5 (Thấp nhất) 52,9 (Cao nhất)
- Năm thứ tư 56,2 59,7 48,3
- Năm thứ năm 51,4 64,5 42,1 (Thấp nhất)
- Năm thứ sáu 54,8 71,4 (Cao nhất) 47,6

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  1. Đối với nhà trường và phòng công tác sinh viên: Cần thiết lập các kênh tham vấn, phòng tư vấn tâm lý học đường định kỳ để sàng lọc sớm các dấu hiệu trầm cảm, lo âu và stress cho sinh viên y khoa; tổ chức các buổi hội thảo chia sẻ kỹ năng quản lý thời gian, phương pháp học tập lâm sàng hiệu quả và kiểm soát căng thẳng.
  2. Đối với gia đình và xã hội: Tăng cường sự quan tâm, động viên, lắng nghe và duy trì kênh giao tiếp cởi mở từ phía cha mẹ nhằm giảm thiểu các xung đột gia đình, tạo điểm tựa tinh thần vững chắc cho sinh viên.
  3. Đối với bản thân sinh viên: Chủ động lập kế hoạch học tập khoa học theo tuần/tháng; xây dựng mạng lưới quan hệ bạn bè lành mạnh; tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, thể thao để nâng cao khả năng thích nghi và giải tỏa áp lực.

Đóng góp của khóa luận:

  • Cung cấp bức tranh dịch tễ học hoàn chỉnh, định lượng và cập nhật về thực trạng sức khỏe tâm thần (đánh giá đồng thời cả 3 mặt: trầm cảm, lo âu, stress) trên sinh viên toàn bộ 6 khối năm học của Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN trong năm học 2021–2022.
  • Làm sáng tỏ các mối tương quan đa chiều giữa các biến số nhân khẩu học, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh cư trú, áp lực học tập lâm sàng và mạng lưới quan hệ gia đình – bạn bè đối với sức khỏe tinh thần của sinh viên y khoa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận đã thẳng thắn ghi nhận các hạn chế phương pháp luận:

  • Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang nên chỉ ghi nhận được tỷ lệ hiện mắc và phản ánh nguy cơ biểu hiện tại một thời điểm duy nhất, không thể xác lập mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa các yếu tố liên quan với tình trạng bệnh lý.
  • Giá trị công cụ đo lường: Thang đo DASS-21 là công cụ sàng lọc cộng đồng nhằm phát hiện nguy cơ triệu chứng tâm lý, không mang giá trị chẩn đoán xác định bệnh học lâm sàng theo các tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế như ICD-10 hay DSM-5.
  • Sai số thu thập: Quá trình khảo sát thực hiện trực tuyến bằng bảng hỏi tự điền (Google Form) gửi về các lớp sinh viên trong bối cảnh các vấn đề sức khỏe tâm thần mang tính chất nhạy cảm, do đó khó kiểm soát hoàn toàn mức độ tập trung, tính nghiêm túc hoặc tâm lý e ngại dẫn đến khai báo chưa phản ánh đúng thực tế.
  • Phạm vi khảo sát: Nghiên cứu chỉ tiến hành tại một cơ sở đào tạo y khoa duy nhất (Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN), chưa mở rộng đối sánh đa trung tâm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Triển khai các nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc (Longitudinal cohort studies) nhằm theo dõi diễn tiến sức khỏe tâm thần của sinh viên qua từng giai đoạn học tập từ tiền lâm sàng đến lâm sàng, từ đó xác định chính xác mối quan hệ nhân quả.
  • Kết hợp công cụ sàng lọc DASS-21 với các bước khám, đánh giá lâm sàng chuyên sâu bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần nhằm xác định tỷ lệ chẩn đoán xác định bệnh lý thực tế trong sinh viên.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên y khoa và cán bộ y tế cộng đồng: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách thức ứng dụng thang đo tâm lý học DASS-21 và phương pháp tính toán cỡ mẫu phân tầng bằng phần mềm chuyên dụng WHO Sample Size 2.0.
  • Các nhà nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trường học: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng cơ sở (Baseline data) để so sánh, đối chiếu với các nghiên cứu sức khỏe tâm thần tại các trường đại học khác ở Việt Nam và khu vực.
  • Ban Giám hiệu và các phòng ban quản lý đào tạo/công tác sinh viên: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng các chính sách hỗ trợ học tập, bố trí thời khóa biểu thực tập lâm sàng hợp lý và xây dựng mô hình tư vấn tâm lý học đường chuyên biệt cho khối ngành sức khỏe.

Câu hỏi thường gặp

1. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán như thế nào và số lượng thu thập thực tế là bao nhiêu?
Cỡ mẫu tối thiểu được tính toán bằng công thức ngẫu nhiên phân tầng theo 6 khối năm học sử dụng phần mềm WHO Sample Size 2.0, với mức sai số tuyệt đối $d = 0,05$, mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ và tỷ lệ trầm cảm kỳ vọng $P_h = 0,396$ (tham chiếu từ Đại học Y Hà Nội), cho ra cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 302 sinh viên. Quá trình chọn mẫu thuận tiện khảo sát trực tuyến đã thu về dữ liệu hợp lệ của 783 sinh viên trên tổng số 1685 sinh viên toàn trường (đạt tỷ lệ 46,5%).

2. Tỷ lệ biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress chung ở sinh viên trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện rối loạn tâm lý chung theo thang DASS-21 lần lượt là: lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất với 59,5% (466 SV), trầm cảm chiếm 53,4% (418 SV) và stress chiếm 48,0% (376 SV). Phần lớn các biểu hiện tập trung ở mức độ nhẹ và vừa; tỷ lệ biểu hiện mức độ nặng và rất nặng lần lượt là 6,7% đối với trầm cảm, 15,6% đối với lo âu và 7,6% đối với stress.

3. Khối năm học nào có tỷ lệ lo âu và trầm cảm cao nhất?
Khối sinh viên năm thứ hai có tỷ lệ biểu hiện trầm cảm cao nhất (58,6%), trong khi khối sinh viên năm thứ nhất có tỷ lệ thấp nhất (44,8%). Đối với biểu hiện lo âu, sinh viên năm thứ sáu (năm cuối) ghi nhận tỷ lệ cao nhất (71,4%), trong khi sinh viên năm thứ ba có tỷ lệ thấp nhất (55,5%).

4. Khóa luận sử dụng thang đo nào để đánh giá sức khỏe tâm thần và độ tin cậy ra sao?
Nghiên cứu sử dụng thang đo Depression – Anxiety – Stress Scales 21 (DASS-21) bản rút gọn gồm 21 câu hỏi của Lovibond (1997), phiên bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa bởi tác giả Trần Đức Thạch và cộng sự năm 2013 với hệ số Cronbach's alpha đạt 0,88, đảm bảo độ tin cậy khoa học cao trong sàng lọc cộng đồng.

5. Kết quả học tập và áp lực thi cử của sinh viên khảo sát thể hiện như thế nào?
Trong 783 sinh viên, điểm GPA phân loại Khá chiếm 57,4%, Trung bình chiếm 18,8%, Giỏi chiếm 17,4%, Xuất sắc chiếm 4,1% và Yếu chiếm 2,3%. Tỷ lệ sinh viên không hài lòng với điểm thi đạt mức cao là 64,8%; 12,4% sinh viên phải thi lại trong năm học qua (trong đó 56,7% thi lại một môn, 27,8% thi lại hai môn và 15,5% thi lại từ ba môn trở lên).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thái Phương Nam đã phản ánh thực trạng đáng báo động về sức khỏe tâm thần của sinh viên Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN trong năm học 2021–2022 với tỷ lệ biểu hiện lo âu đạt 59,5%, trầm cảm đạt 53,4% và stress đạt 48,0%. Nghiên cứu chỉ ra sự phân hóa rõ nét của các rối loạn tâm lý theo giới tính (nữ cao hơn nam), theo khối năm học (lo âu cao nhất ở năm cuối và trầm cảm cao nhất ở năm thứ hai) cũng như mối liên hệ với các áp lực học tập, điều kiện kinh tế và mối quan hệ gia đình – xã hội. Công trình đóng vai trò là cơ sở dữ liệu dịch tễ học thực chứng quan trọng, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với nhà trường và gia đình trong việc triển khai các chương trình sàng lọc định kỳ và giải pháp can thiệp tâm lý học đường kịp thời cho sinh viên ngành y khoa.