Luận văn thực trạng rối loạn cơ xương khớp và một số yếu tố nghề nghiệp liên quan của công nhân thu gom rác thải công ty môi trường đô thị hà nội năm 2017

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thực trạng rối loạn cơ xương khớp và một số yếu tố nghề nghiệp liên quan của công nhân thu, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

103
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về rối loạn cơ xương khớp và yếu tố nghề nghiệp

Nghiên cứu tập trung vào rối loạn cơ xương khớp (RLCXK) và các yếu tố nghề nghiệp liên quan ở công nhân thu gom rác tại Hà Nội năm 2017. RLCXK là vấn đề sức khỏe phổ biến trong ngành thu gom rác, gây đau đớn và giảm năng suất lao động. Các yếu tố nghề nghiệp như tư thế lao động bất lợi, cường độ làm việc cao, và điều kiện môi trường khắc nghiệt được xác định là nguyên nhân chính dẫn đến RLCXK. Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng và phân tích các yếu tố liên quan đến RLCXK ở nhóm đối tượng này.

1.1. Khái niệm và tiến triển của RLCXK

RLCXK liên quan đến nghề nghiệp (RLCXKNN) là các rối loạn gây đau đớn ở cơ, gân, và khớp, ảnh hưởng đến cử động và sức khỏe người lao động. Triệu chứng phổ biến bao gồm đau, cứng khớp, và sưng tấy. RLCXKNN tiến triển từ giai đoạn nhẹ đến nặng, từ đau khi làm việc đến đau dai dẳng ngay cả khi nghỉ ngơi. Giai đoạn cuối có thể dẫn đến tàn tật và giảm chất lượng cuộc sống.

1.2. Yếu tố nghề nghiệp liên quan

Các yếu tố nghề nghiệp như tư thế lao động bất lợi, cường độ làm việc cao, và điều kiện môi trường khắc nghiệt là nguyên nhân chính gây RLCXK. Công nhân thu gom rác thường xuyên phải nâng, vác, và đẩy vật nặng, làm việc ngoài trời với điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Những yếu tố này gây áp lực lớn lên hệ cơ xương khớp, dẫn đến tổn thương tích lũy theo thời gian.

II. Thực trạng RLCXK ở công nhân thu gom rác Hà Nội 2017

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc RLCXKcông nhân thu gom rác tại Hà Nội năm 2017 là 74,4%. Các vị trí đau phổ biến nhất là thắt lưng (46,8%), cổ (43,3%), và vai (42,3%). 60,7% công nhân mắc RLCXK ở từ hai vị trí trở lên. Hầu hết công nhân phải nghỉ việc ít nhất một ngày do RLCXK, và chỉ 7,4% cảm thấy giảm đau hoàn toàn khi áp dụng các biện pháp giảm đau.

2.1. Đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng sức khỏe

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nam giới, làm việc với cường độ cao (6 ngày/tuần, trên 8 giờ/ngày). Điều kiện làm việc ngoài trời và tiếp xúc với các yếu tố vi khí hậu bất lợi làm tăng nguy cơ mắc RLCXK. Công nhân thường xuyên phải thực hiện các tư thế bất lợi như nâng, vác, và đẩy vật nặng, gây áp lực lớn lên hệ cơ xương khớp.

2.2. Kết quả đánh giá bằng bộ công cụ Orebro

Bộ công cụ Orebro được sử dụng để đánh giá nguy cơ RLCXK. Kết quả cho thấy 63,4% công nhân có khả năng phục hồi cao, trong khi 36,6% có khả năng phục hồi thấp. Điểm Orebro trung bình cho thấy mức độ nghiêm trọng của RLCXK ở nhóm đối tượng này, với các yếu tố như căng thẳng tâm lý, tư thế lao động bất lợi, và điều kiện làm việc khắc nghiệt là nguyên nhân chính.

III. Phân tích yếu tố nghề nghiệp liên quan đến RLCXK

Nghiên cứu phân tích các yếu tố nghề nghiệp liên quan đến RLCXKcông nhân thu gom rác. Các yếu tố bao gồm tổ chức lao động, điều kiện khí hậu, tính chất công việc, và căng thẳng tâm lý. Kết quả cho thấy giới tính, mức độ căng thẳng tâm lý, và tư thế lao động bất lợi có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng RLCXK.

3.1. Tổ chức lao động và điều kiện khí hậu

Công nhân làm việc với cường độ cao và kéo dài, tiếp xúc với các yếu tố khí hậu bất lợi như nắng, mưa. Điều kiện làm việc không an toàn và thiếu thiết bị bảo hộ lao động làm tăng nguy cơ mắc RLCXK. Các yếu tố này gây áp lực lớn lên hệ cơ xương khớp, dẫn đến tổn thương tích lũy.

3.2. Tính chất công việc và căng thẳng tâm lý

Công việc thu gom rác đòi hỏi sự gắng sức thể lực cao, với các động tác lặp đi lặp lại như nâng, vác, và đẩy vật nặng. Căng thẳng tâm lý và mối quan hệ trong công việc cũng là yếu tố quan trọng gây RLCXK. Những yếu tố này làm giảm khả năng phục hồi và tăng nguy cơ mắc bệnh lý cơ xương khớp.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu kết luận rằng RLCXK là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ở công nhân thu gom rác tại Hà Nội năm 2017. Các yếu tố nghề nghiệp như tư thế lao động bất lợi, cường độ làm việc cao, và điều kiện môi trường khắc nghiệt là nguyên nhân chính. Cần có các biện pháp can thiệp sớm về tổ chức lao động, kỹ thuật, và giáo dục để cải thiện tình trạng RLCXK.

4.1. Biện pháp can thiệp

Các biện pháp can thiệp bao gồm cải thiện điều kiện làm việc, cung cấp thiết bị bảo hộ lao động, và đào tạo về tư thế lao động an toàn. Cần tăng cường giáo dục sức khỏe và hỗ trợ tâm lý cho công nhân để giảm căng thẳng và nguy cơ mắc RLCXK.

4.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn về RLCXK và các yếu tố liên quan trong ngành thu gom rác. Việc áp dụng công nghệ và cơ giới hóa trong quá trình thu gom rác cũng là hướng đi quan trọng để giảm gánh nặng lao động và nguy cơ mắc RLCXK.

23/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về rối loạn cơ xương khớp và rối loạn cơ xương khớp liên quan đến nghề nghiệp 1.1 Một số khái niệm Rối loạn cơ xương khớp liên quan đến nghề nghiệp (RLCXKNN) là những chấn thương và các rối loạn gây cảm giác đau đớn tới cơ bắp, gân và dây thần kinh ảnh hưởng đến cử động hoặc hệ thống CXK của cơ thể người lao động [11,12, 44]. Triệu chứng cơ bản, hay gặp nhất của RLCXKNN là đau. Trong một số trường hợp có thể xuất hiện cứng khớp, căng cơ, tấy đỏ và sưng vùng bị ảnh hưởng. Một số công nhân có thể thấy “bứt rứt như kiến bò”, tê liệt, thay đổi màu da hoặc giảm tiết mồ hôi ở bàn tay [12].

RLCXKNN xuất hiện và phát triển khi các cơ bắp hoạt động nhiều lần hoặc trong một thời gian dài mà không được nghỉ ngơi. Nguy cơ chấn thương sẽ tăng lên nếu lực tác dụng lớn hoặc công nhân phải làm việc trong tư thế bất lợi. Hầu hết RLCXKNN liên quan đến công việc là những rối loạn tích lũy, do phơi nhiễm lặp đi lặp lại với công việc có cường độ cao hoặc thấp trong thời gian dài. Những rối loạn này chủ yếu ảnh hưởng đến gáy, vai và chi trên nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến các chi dưới [51].2 Tiến triển của RLCXKNN RLCXKNN tiến triển từ từ, tích lũy theo thời gian.

Hầu như tất cả các công việc đều đòi hỏi việc sử dụng cánh tay và bàn tay. Do đó, RLCXKNN ở chi trên và vai là phổ biến. RLCXKNN cũng có thể ảnh hưởng đến chân, hông, mắt cá chân và bàn chân trong trường hợp điều kiện công việc đòi hỏi sử dụng chân và các khớp chân nhiều [12]. RLCXKNN tiến triển theo giai đoạn từ nhẹ đến nặng, từ không thoải mái đến đau đớn, từ lúc chỉ xảy ra khi đang làm việc cho đến khi xuất hiện ngay cả khi nghỉ ngơi.

Kèm theo đó là các triệu chứng có thể biến mất nhanh chóng sau ca làm việc, sau đó xuất hiện ngày càng dai dẳng ngay cả khi không làm việc [55]. - Giai đoạn sớm: Chi bị tổn thương có cảm giác đau nhức và mệt mỏi, xảy ra trong ca làm việc nhưng giảm hoặc không đau vào ban đêm và trong những ngày 5 nghỉ. Đau đớn hiện tại chưa ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc [12]. Khi những dấu hiệu ban đầu này xuất hiện, cần chú ý đến những dấu hiệu không thường xuyên biến mất sau khi làm việc nhưng có xu hướng trầm trọng hơn [55].

- Giai đoạn trung gian: Ở thời kì tiến triển, qua thời gian, các triệu chứng bắt đầu bộc lộ rõ. Đau nhức và mệt mỏi xảy ra rất nhanh ngay trong ca làm việc kéo dài vào ban đêm [12]. Đau đớn xảy ra thường xuyên hơn nhưng tần suất không quá dày đặc, có thể lan ra các khu vực xung quanh vùng bị tổn thương (như khu vực khuỷu tay, vai hay cổ tay) và các khu vực khác (như từ vai lan ra cánh tay). Khi các triệu chứng dần trở nên rõ ràng, đau thường xuyên xuất hiện kể cả khi không cử động hoặc cố gắng nghỉ ngơi.

Cần vài tuần cách ly với các yếu tố nguy cơ thì triệu chứng có thể biến mất. Nếu không cách ly, khi RLCXKNN tiến triển nghiêm trọng thì không thể đảm bảo việc hồi phục hoàn toàn. Khi đó, cơ thể chỉ có thể cố gắng hồi phục tại vị trí bị tổn thương nhưng sẽ để lại những hậu chứng sau này như sẹo, mô bị biến dạng và dễ bị tổn thương hơn trong tương lai [55]. Đau đớn cũng gây giảm hiệu suất làm việc đối với những công việc lặp đi lặp lại [12].

- Giai đoạn cuối: Công nhân cảm thấy nhức, mệt mỏi và suy nhược kéo dài ở khu vực bị tổn thương kể cả khi nghỉ ngơi. Ảnh hưởng đến giấc ngủ và giảm hiệu suất làm việc ngay cả khi thực hiện các hoạt động nhẹ nhàng [12].3 Hậu quả, tác động Tác động tới sức khỏe và chất lượng cuộc sống của công nhân: RLCXKNN không đe dọa tính mạng nhưng có thể làm suy giảm chức năng của cơ thể, gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người lao động [24]. Việc suy giảm chức năng của cơ thể khiến cho người lao động gặp khó khăn khi thực hiện những sinh hoạt cơ bản nhất [8]. RLCXKNN gây ảnh hưởng đến người lao động từ những triệu chứng ban đầu như âm ỉ đau, đau không thường xuyên, gây khó chịu và không ảnh hưởng nghiêm trọng cuộc sống, công việc [55].

Tác động tới khả năng làm việc: Yêu cầu công việc gây ra nhiều thay đổi về thể chất hoặc tinh thần của người lao động, trong đó có những đau nhức, mệt mỏi, thương tổn đến hệ thống CXK, dẫn đến mất sức lao động ở người lao động [52]. RLCXKNN có thể khiến người lao động phải thay đổi công việc hoặc không thể lao 6 động được nữa. Theo thống kê của HSE (2015) tại Anh, trong năm 2014 – 2015, số ngày làm việc của công nhân bị mất do mắc RLCXKNN chiếm 40% tổng số ngày làm việc bị mất do bệnh tật liên quan đến nghề nghiệp [24]. Tác động tới kinh tế: RLCXKNN không chỉ khiến cho các công nhân phải chịu đựng đau đớn, mà còn dẫn đến tàn tật, làm giảm thu nhập do điều trị cũng như giảm hiệu quả công việc nói chung, tạo gánh nặng lên từng công nhân và toàn xã hội [50].

RLCXKNN gây ra những khoản chi phí cao cho lao động như vắng mặt, mất năng suất, tàn tật, tăng các chi phí về chăm sóc sức khỏe và bồi thường lao động [14]. RLCXKNN được báo cáo là chiếm khoảng một phần năm tổng trường hợp nghỉ ốm của người lao động trong ngành công nghiệp rác thải [23, 39].2 Đặc điểm điều kiên lao động và nguy cơ rối loạn cơ xương khớp của công nhân thu gom rác thải Công nhân gom rác thải đô thị có nhiệm vụ chính là quét rác trên đường phố vỉa hè, gom thành từng đống nhỏ; quét nước ứ đọng trên đường nếu có, thu gom rác đống trên đường phố, vỉa hè; hót xúc rác vào công cụ thu chứa, di chuyển công cụ thu chứa về điểm tập kết rác để chuyển sang xe chuyên dụng để đảm bảo việc duy trì vệ sinh môi trường đô thị [2, 32, 39].1 Phơi nhiễm yếu tố sinh học và hóa học Công nhân thu gom rác thải phơi nhiễm hàng ngày với các yếu tố tác hại nghề nghiệp là rác và các thành phần của chúng [27]. Rác thải đô thị đa dạng về chủng loại và kích thước. Tại Mỹ, năm 2013, hơn 50% lượng rác thải đô thị là bao bì (27%), đồ nhựa (12,8%) và thực phẩm (14,6%) [13].

Tại Việt Nam, rác thải đô thị chủ yếu là chất thải sinh hoạt chiếm khoảng 60 – 70%, tiếp theo là chất thải xây dựng và chất thải công nghiệp. Tại Hà Nội, lượng chất thải rắn đô thị phát sinh với gấp đôi trong 5 năm 6.000 tấn/năm 2003 nhưng tới năm 2008 là 12. Theo phân loại chất thải rắn của Việt Nam, chất thải rắn đô thị thông thường gồm rác thực phẩm, giấy, vải, rác vườn, gỗ, thủy tinh, lon, kim loại, lá cây, vật liệu xây dựng thải từ xây sửa nhà, đường giao thông, vật liệu thải từ công trường… Chất thải rắn đô thị nguy hại là đồ điện, điện tử hư hỏng, nhựa, túi nylon, pin, săm lốp xe, sơn thừa, đèn neon hỏng, bao bì thuốc diệt chuột/ruổi/muỗi,. 7 Việc phân loại CTR tại nguồn vẫn chưa được triển khai rộng rãi, vì vậy ở hầu hết các đô thị nước ta, việc thu gom rác chưa phân loại vẫn là chủ yếu từ đó chứa đựng nhiều yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe công nhân khi xử lý chúng.2 Phơi nhiễm với yếu tố tâm sinh lý lao động và éc gô nô my Trung bình mỗi ca làm việc của một công nhân thu gom rác thải kéo dài khoảng 8 giờ [21, 32, 28].

Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, Ấn Độ, công việc thu gom vẫn được thực hiện chủ yếu bằng sức người, chỉ có xe tải hỗ trợ tại nơi tập kết rác [3, 57]. Có 3 phương pháp thu gom chính: thu gom băng túi, thùng 2 bánh, thùng 4 bánh [32]. Công việc yêu cầu công nhân thu gom rác thải thường xuyên phải nâng, mang vác, đẩy, kéo các vật nặng, đứng và đi bộ [32, 39]. Công tác thu gom thông thường sử dụng hai hình thức là thu gom sơ cấp (người dân tự thu gom vào các thùng/túi chứa sau đó được công nhân thu gom vào các thùng rác đẩy tay cỡ nhỏ) và thu gom thứ cấp (rác các hộ gia đình được công nhân thu gom vào các xe đẩy tay sau đó chuyển đến các xe ép rác chuyên dụng và chuyển đến khu xử lý hoặc tại các chợ/khu dân cư có đặt container chứa rác, công ty môi trường đô thị có xe chuyên dụng chở container đến khu xử lý) [1].

Công nhân chủ yếu làm việc trên đường phố, ngoài trời, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những điều kiện khí hậu khắc nghiệt như mưa, nắng, tiếp xúc liên tục với nhiều loại hơi khí độc, bụi bẩn kết hợp với chỗ nghỉ tạm bợ trên đường phố [3]. Môi trường lao động có nhiều yếu tố nguy cơ tuy nhiên CNTGRT còn đối mặt với điều kiện làm việc không an toàn khi thiếu các thiết bị bảo bộ lao động. Như tại Ấn Độ công nhân môi trường lao động phải làm việc với đôi tay trần [57].3 Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ mắc RLCXKNN ở CNTGRT đô thị 1.1 Các yếu tố nghề nghiệp 1.1 Lực tác động Khi thực hiện hoạt động đòi hỏi sự gắng sức của cơ, cùng tần số xử lý khối lượng công việc lớn là các yếu tố môi trường làm việc quan trọng tác động tới hệ cơ xương khớp [63]. Khi thực hiện bất kì một hoạt động, hệ CXK của cơ thể đều phải chịu tác động của lực từ bên ngoài.

Cường độ lực tác động lên cơ thể vượt quá giới hạn chịu 8 đựng của cơ thể, có thể dẫn đến mắc RLCXKNN. Những bộ phận chịu lực chính của cơ thể trong quá trình TGRT bao gồm bàn tay, thắt lưng, bàn chân, vai [49, 55]. Với hoạt động đẩy và kéo thùng rác gây lực tác động lớn nhất tại bàn tay (điểm tiếp xúc lực trực tiếp) [40], thắt lưng phải chịu một lực nén khi giữ cân bằng cho cơ thể để tạo ra momen chống lại momen đẩy cơ thể về phía trước [40], bàn chân cũng là nơi chịu lực lớn khi là điểm tựa nâng đỡ trọng lực cơ thể [40].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực trạng rối loạn cơ xương khớp và yếu tố nghề nghiệp ở công nhân thu gom rác Hà Nội 2017 là một nghiên cứu quan trọng, tập trung vào tình trạng sức khỏe của nhóm lao động đặc thù này. Tài liệu chỉ ra rằng công nhân thu gom rác phải đối mặt với tỷ lệ cao các vấn đề về cơ xương khớp do tính chất công việc nặng nhọc, tư thế làm việc không đúng và thiếu trang bị bảo hộ. Nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố nghề nghiệp liên quan, từ đó đề xuất giải pháp cải thiện điều kiện làm việc và chăm sóc sức khỏe cho nhóm đối tượng này. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, chuyên gia y tế và những người quan tâm đến sức khỏe nghề nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe liên quan đến nghề nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thực trạng thực hành chăm sóc vết thương sau mổ của điều dưỡng khoa ngoại tổng hợp bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ năm 2020, nghiên cứu về thực hành chăm sóc y tế trong môi trường bệnh viện. Ngoài ra, Luận án thực trạng tăng huyết áp và hiệu quả của mô hình quản lý điều trị tại huyện văn yên tỉnh yên bái cung cấp góc nhìn về quản lý bệnh mãn tính trong cộng đồng. Cuối cùng, Phân tích tình hình sử dụng thuốc corticoid đường uống theo quy định của bộ y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh kiên giang năm 2019 2020 là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về việc sử dụng thuốc trong điều trị y tế.