Lời mở đầu của Luật Đất đai năm 1993 đã xác định vai trò của đất đai: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an sinh và quốc phòng; trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất như ngày nay” [6]. Rõ ràng, đất đai không chỉ có những vai trò quan trọng như đã nêu trên mà nó còn có ý nghĩa về mặt chính trị. Tài sản quý giá ấy phải bảo vệ bằng cả xương máu và vốn đất đai mà một quốc gia có được thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia. Đất đai còn là nguồn của cải, quyền sử dụng đất đai là nguyên liệu của thị thường nhà đất.
Đặc điểm của đất đai Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp. Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân bố của ngành nông nghiệp. Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất, ngày càng tăng. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 1.
Quản lý nhà nước về đất đai 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước về đất đai. Đó là các hoạt động trong việc nắm và quản lý tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân bổ đất đai vào các mục đích sử dụng đất theo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai. Mục tiêu cao nhất cả quản lý nhà nước về đất đai là bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nước, đảm vảo việc khai thác sử dụng tiết kiệm, hợp lý, bền vững và ngày càng có hiệu quả cao [6].
Vai trò quản lý nhà nước về đất đai - Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. - Đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất. - Ban hành các chính sách, các quy định nội dung còn thiếu, chưa phù hợp với thực tế về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai, bảo đảm lợi ích chính đáng của người sử dụng đất. Đồng thời, cũng bảo đảm lợi ích của Nhà nước trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất.
- Kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất đai; phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm [2]. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai - Quản lý toàn bộ vốn đất của quốc gia, không quản lý lẻ tẻ từng vùng. - Số liệu quản lý phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng phục vụ cho mục đích sử dụng nào đó. - Những quy định, những biểu mẫu phải thống nhất trên toàn quốc và trong ngành địa chính.
- Quản lý một cách hệ thống và phương pháp phải thống nhất trên toàn quốc. - Số liệu so sánh không chỉ theo từng đơn vị nhỏ mà phải thống nhất so sánh trong cả nước. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 - Tài liệu trong quản lý phải đơn giản và phổ thông; phải phản ánh được điều kiện riêng biệt của từng vùng địa phương. - Quản lý Nhà nước trên cơ sở pháp luật, Luật Đất đai và các văn bản, biểu mẫu quy định, hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chuyên môn từ trung ương đến cơ sở.
- Quản lý đất đai phải khách quan, chính xác, đúng với số liệu nhận được và đúng mục đích; tài liệu trong quản lý phải đảm bảo tính pháp luật, phải đầy đủ, đúng thực tế. - Quản lý đất đai tuân theo nguyên tắc tiết kiệm và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất đai Hoạt động của thị trường có hai mặt tích cực và tiêu cực, do đó cần có sự quản lý, can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước bằng các công cụ và chính sách thích hợp nhằm phát huy tích tích cực và hạn chế những tiêu cực của thị trường. Vì vậy, quản lý Nhà nước về đất đai phải đảm bảo mục đích sau: - Bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng.
- Bảo đảm sử dụng hợp lý vốn đất của Nhà nước. - Tăng cường hiệu quả kinh tế sử dụng đất. - Bảo vệ đất, cải tạo đất và bảo vệ môi trường sống. - Quản lý toàn bộ vốn đất của quốc gia, không quản lý lẻ tẻ từng vùng.
- Số liệu quản lý phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng phục vụ cho mục đích sử dụng nào đó. - Những quy định, những biểu mẫu phải thống nhất trên toàn quốc và trong ngành địa chính. - Quản lý một cách hệ thống và phương pháp phải thống nhất trên toàn quốc. - Số liệu so sánh không chỉ theo từng đơn vị nhỏ mà phải thống nhất so sánh trong cả nước.
- Tài liệu trong quản lý phải đơn giản và phổ thông; phải phản ánh được điều kiện riêng biệt của từng vùng địa phương. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 - Quản lý Nhà nước trên cơ sở pháp luật, Luật Đất đai và các văn bản, biểu mẫu quy định, hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chuyên môn từ trung ương đến cơ sở. - Quản lý đất đai phải khách quan, chính xác, đúng với số liệu nhận được và đúng mục đích; tài liệu trong quản lý phải đảm bảo tính pháp luật, phải đầy đủ, đúng thực tế. - Quản lý đất đai tuân theo nguyên tắc tiết kiệm và mang lại hiệu quả kinh tế cao [6].
Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Tại Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 quy định việc quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm 15 nội dung, đó là: 1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Thống kê, kiểm kê đất đai. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 13. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.
Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai. Tổng quan chính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, quỹ đất công và đất công ích qua các thời kỳ 1. Khái niệm đất công ích a) Khái niệm chung Trong các quy định của pháp luật đất đai trước kia, cũng như Luật Đất đai hiện hành không có một khái niệm cụ thể nào cho đất công ích, nhưng có thể rút ra từ các quy định đó một cách khái quát: “đất công ích là diện tích đất mà mỗi xã, phường, thị trấn căn cứ vào quy đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mà được giữ lại không quá năm phần trăm (5%) trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản của địa phương để thực hiện các mục đích công ích tại xã, phường, thị trấn thuộc địa phương đó”. Từ khái niệm trên nên hiểu rằng, đất công ích là loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp, trích ra nhằm sử dụng vào mục đích công ích và chỉ giữ lại trong giới hạn pháp luật cho phép là từ 5% hoặc ít hơn, so với tổng diện tích đất sản nông nghiệp có trong phạm vi địa bàn địa phương [18].
Tóm lại, có thể hiểu đất công ích là loại đất do địa phương xã, phường, thị trấn quản lý, sử dụng gồm hai bộ phận; một là quỹ đất để lại nhằm đáp ứng nhu cầu gồm các công trình văn hóa, thể dục thể thao, y tế, vui chơi giải trí công cộng, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình khác; hai là đất nông nghiệp để lại dung cho mục đích công ích và tiền thu được từ quỹ đất công ích được sử dụng vào các mục đích công ích của xã, phường, thị trấn. b) Mục đích của việc để lại đất công ích Mỗi loại đất có tên gọi khác nhau, sẽ có những tính chất, đặc điểm riêng đáp ứng các mục đích sử dụng khác nhau. Với tên gọi, cũng như những quy định của Luật Đất đai về đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích, thì đất công ích chủ yếu chỉ nhằm phục vụ vào các hoạt động công cộng của các xã, phường, thị trấn. Như định nghĩa ở trên thì mục đích đất công ích là nhằm đáp ứng nhu cầu gồm các công trình văn hóa, thể dục thể thao, y tế, vui chơi giải trí công cộng, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình khác theo quyết định sử dụng của Ủy ban nhân dân tỉnh, PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 thành phố trực thuộc Trung ương.
Bên cạnh đó, còn dùng đất vào việc xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa cho những gia đình nghèo, neo đơn hoặc gia đình có công với cách mạng, bồi thường khi sử dụng đất khác để xây dựng các công trình nói trên.